



TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG
I.
NGÂN SÁCH QUỐC PHÒNG
Dưới đây là bảng so sánh chi phí Quốc Phòng của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga Sô và các quốc gia có liên hệ đến Biển Ðông dựa theo nghiên cứu của các cơ quan Stockholm International Peace Research Institute (SIPRI), International Institute for Strategic Studies (IISS), CIA World Factbook, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (DOD) và Cơ quan Tình báo Quân đội Australia (DIO). Bảng so sánh này lấy những con số cao nhất. Có những điều cần nên để ý:
•
Ngân khoảng thật sự: Các quốc gia Tây Phương như Hoa Kỳ thường để thêm một số ngân sách liên hệ đến quốc phòng vào các chương trình riêng rẽ cũng như các Bộ khác nhau nên rất khó theo dỏi. Trong các nước Cộng Sản như Trung Quốc, Việt Nam thường có hai nguồn ngân sách riêng: Chính phủ và Ðảng. Các dự án chiến lược có thể lấy ngân sách từ hai nguồn, do dó ngân sách Quốc Phòng thực sự có thể cao hơn nhiều:
-
Ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ 2011 là $708 tỷ Mỹ Kim. Ngân sách này chưa kể những ngân khoảng dính líu đến quốc phòng phân phối cho các bộ Năng Lượng, Cựu Chiến Binh, Homeland Security, FBI, NASA. Những chương trình nghiên cứu riêng rẻ cũng đã chiếm thêm 79.6 tỷ Mỹ Kim. Tổng số thực sự những chi phí liên quan đến Quốc Phòng thật ra là 1.003-1.223 ngàn tỷ Mỹ Kim.
-
Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc phòng của họ trong năm 2011 sẽ tăng lên 92 tỉ Mỹ Kim, tăng 12.7% so với năm trước. Ðây là tỉ lệ tăng trưởng cao nhất so với các nước trong khu vực. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc vẫn tiếp tục cao hàng thứ nhì thế giới và chi phí quân sự trên thực tế của họ còn cao hơn nhiều so với con số chính thức. Ước tính của RAND cho biết ngân sách quốc phòng của Trung Quốc chiếm 2.3-2.8% GDP hay là 40-70% cao hơn con số chính thức (129-156 tỷ Mỹ Kim). Giới tình báo Pháp cho biết ngân sách quốc phòng của Trung Quốc có thể cao hơn 5% của GDP.
-
Việt Nam vừa mới công bố ngân sách Quốc Phòng 2012 là 3.5 tỷ Mỹ Kim (70,000 tỷ đồng), 35% gia tăng so với 2011. Ngân sách Quốc phòng VN chiếm 2% GDP nhưng con số này không bao gồm nhiều hợp đồng mua bán vũ khí mà Hà Nội vẫn giữ bí mật. Người ta cũng không rõ các hoạt động kinh tế khác của quân đội Việt Nam như trồng và sản xuất cà phê, khai thác quặng mỏ, cung ứng dịch vụ điện thoại viễn thông, internet, những lợi nhuận từ những dàn xếp gắn với lợi nhuận dầu hỏa, khí đốt và nhu cầu năng lượng hạt nhân của Việt Nam v.v. vì đây là một trong những nguồn tài chính quan trọng cho ngân sách của quân đội. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng ngân sách Quốc Phòng của Việt Nam vượt trên 5% GDP. Ðiều này cho thấy ngân sách Quốc Phòng thật sự của Việt Nam có thể lên tới 8-9 tỷ Mỹ Kim.
•
Sự khác biệt về Purchasing Power Parity (PPP): Nếu tính ngân sách quốc phòng dựa theo PPP thì các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Ðộ có khả năng mua sắm cao hơn so với ngân khoảng của họ. Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ và Nhật Bản lại thấp hơn tuy nhiên sự so sánh có thể không được chính xác.
•
Hiệu năng khi thiết kế và sản xuất (Ví dụ: Chiếc SU-27 của Nga được xem như là tương đương với F-15 của Hoa Kỳ mà giá bán lại rẻ hơn 30%).
•
Tính năng kỷ thuật: Hải Quân Hoa Kỳ, Nga Sô và Trung Quốc chưa bao giờ thực sự đụng độ với nhau nên không thể biết khả năng thực sự của các loại vũ khí. Sự kiện Trung Quốc vẫn mua các chiến hạm và phi cơ của Nga cũng như thiết bị quân sự của các nước Tây Âu chứng tỏ về phương diện kỹ thuật, Nga và các nước Tây Âu vẫn còn đi trước Trung Quốc khá xa. Hơn nữa, Trung Quốc sở trường về việc mua kỹ thuật quân sự của nuớc ngoài, nhất là từ Nga Sô với số lượng tối thiểu và về sao chép lại. Ðiều này rẽ, it mất thi giờ và hiệu quả hơn tự nghiên cứu lấy. Nga Sô thừa biết điều này nhưng vì những tính toán hơn thiệt, Trung Quốc vẫn là thị trường mua vũ khí béo bổ của Nga.
Chúng tôi không có dữ liệu về ngân khoảng Hải Quân của mổi nước; tuy nhiên, ngân khoảng dành cho Hải Quân cũng tương đương như 2 quân chủng Lục và Không Quân.
Tranh Chấp Biển Đông
Chủ Trương & Kỹ Thuật: Nguyễn Mạnh Trí
II.
TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG HẢI QUÂN
•
HẢI QUÂN THẾ GIỚI
Tài liệu tham khảo:
Chú thích:
- CVN: Hàng Không Mẫu Hạm nguyên tử hạng nặng (Nuclear Aircraft Carrier)
- CVF: Hàng Không Mẫu Hạm hạng trung (Aircraft Carrier)
- CGN: Tuần Dương Hạm nguyên tử hạng nặng trang bị hỏa tiễn
- CG: Tuần Dương Hạm trang bị hỏa tiễn
- DDH/DDG: Khu Trục Hạm trang bị hỏa tiễn, có hay không có trực thăng.
- FFG/FF (FRIGATE): Khu Trục Hạm hạng nhẹ (4,000 tấn) trang bị hỏa tiễn/trọng pháo
- DEG/DE(CORVETTE): Khu Trục Hạm hạng nhẹ (2,000 tấn) trang bị hỏa tiễn/trọng pháo
- LCS (Littoral Combat Ship): Chiến hạm hoạt động trong vùng nước cạn
- JHSV (Joint High Speed Vessel): Tàu chuyên chở hỗn hợp cao tốc
- SSBN: Tàu ngầm nguyên tử mang hỏa tiển liên lục địa
- SSGN: Tàu ngầm nguyên tử mang hỏa tiển hành trình
- SSB: Tàu ngầm dùng động cơ dầu cặn mang hỏa tiển liên lục địa
- SSN: Tàu ngầm nguyên tử loại tấn công
- SSK: Tàu ngầm tấn công dùng động cơ dầu cặn
- LLC: Soái hạm chở trực thăng (Amphibious Command Ship)
- LPH/LHA/LHD: Amphibious Assault Ship
- LPD: Amphibious Transport Dock
- LSD: Amphibious Landing Ship
- LST: Amphibious Landing Ship (Large & Medium)
Nguyễn Mạnh Trí
E-Mail: prototri@yahoo.com
www.tranchapbiendong.com
Tu chỉnh: Ngày 21 tháng 1 năm 2012