Tranh Chấp Biển Đông
Chủ Trương & Kỹ Thuật: Nguyễn Mạnh Trí

Chào Mừng Quý Khách
TRUNG QUỐC

III.THẾ YẾU CỦA TRUNG QUỐC

Nhìn bên ngoài, Trung Quốc phát triển mạnh mẽ về kinh tế, tài chánh cũng như quân sự nhưng có những giới hạn mà Hoa Kỳ cũng như các cường quốc trên thế giới không để Trung Quốc đi quá và Trung Quốc cũng phải hiểu những giới hạn của mình. Dù GDP Trung Quốc có đứng hàng đầu thế giới đi nữa nhưng GDP bình quân đầu người vẫn xếp thứ hạng sau 100. Tình hình cơ bản của Trung Quốc vẫn là người đông, vốn mỏng, tương đối thiếu tài nguyên, lắm người nghèo. Không ai mong muốn gì một nước Trung Quốc suy sụp về kinh tế, bởi với 1 tỷ 3 dân số, người đói cứ tràn qua các nước giáp biên giới với Trung Quốc cũng đủ làm cho các nước chết ngạt. Nhiều năm qua, mặc dù gặt hái nhiều thành tựu to lớn, nhiều dự đoán cho rằng kinh tế Trung Quốc sắp vượt qua Nhật Bản để đứng thứ hai thế giới, tuy nhiên, đằng sau bức tranh kinh tế – xã hội của đất nước có diện tích khổng lồ này đã bộc lộ những khiếm khuyết đe dọa đến sự phát triển bền vững của chính họ. Cần có một sự khảo sát công phu, đi vào bề sâu và toàn diện hơn nữa, của các chuyên gia kinh tế cũng như các nhà xã hội học để nhìn thấy những vấn đề căn bản mà Trung Quốc đang phải đối phó:

KINH TẾ & TÀI CHÁNH

1.PHÁT TRIỂN:

Mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng: Sau hơn 30 năm phát triển, tổng sản lượng nội địa tăng từ 461 tỷ NDT (309 tỷ Mỹ Kim) vào năm 1980 lên đến 25,731 tỷ NDT (3,377 tỷ Mỹ Kim) vào năm 2007. Đồng lương tối thiểu của nhân công trong các khu kỹ nghệ đã tăng lên 100 Mỹ Kim, có nhiều nơi 150 Mỹ Kim một tháng. Trung Quốc đang mất dần tính cạnh tranh về lao động rẽ so với các quốc gia trong vùng như Việt Nam, Bangledesh. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009, đã có 4 triệu công nhân mất việc năm 2008 và 5 triệu công nhân mất việc năm 2009. Chỉ trong tỉnh Quảng Ðông cũng đã có 600,000 công nhân mất việc. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã bơm vào 586 tỷ Mỹ Kim để kích thích kinh tế, chỉ số tăng trưởng trong năm 2009 chỉ còn 6%, thấp nhất kể từ 1990. Trong năm 2009 cũng như các năm kế tiếp, Trung Quốc có thể duy trì mức tăng trưởng 9% dựa vào tiêu thụ nội địa nhưng chi tiêu sẽ gia tăng giảm đi dự trữ ngoại tệ.

So với các nước đang phát triển cũng có ảnh hưởng tương đối lớn như Ấn Độ và Brazil, Trung Quốc có tỉ lệ công nghiệp trong GDP cao hơn nhưng lại có tỉ lệ dịch vụ trong GDP nhỏ hơn rất nhiều. Để thúc đẩy cho sự tăng trưởng ồ ạt của thành phần công nghiệp và dự trữ ngoại tệ, Trung Quốc đã đưa ra những chính sách hỗ trợ không những làm méo mó sự phân bổ tài nguyên kinh tế mà còn kìm hãm khả năng phát triển của nhu cầu tiêu thụ nội địa (ví dụ, sự hạn chế mức tăng trưởng tiền lương sẽ giúp các nhà sản xuất nhưng lại cản trở khả năng tăng thu nhập của công nhân để họ có thể tăng mức tiêu thụ).

Chủ tịch Ngân hàng xây dựng Trung Quốc, ngân hàng lớn thứ hai cả nước xếp về tổng giá trị tài sản mới đây đã đưa ra cảnh báo về những hiểm họa mà sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh có thể gây ra cho Trung Quốc. Đó là sự bùng nổ tín dụng của năm 2009 khi mà các ngân hàng, dưới dự bảo trợ từ gói kích thích kinh tế khổng lồ của Chính phủ đã “vung tay” cho vay, đưa tổng dư nợ tín dụng mới của nước này trong năm 2009 lên tới con số kỷ lục 9,600 tỷ NDT, tương đương với 1,400 tỷ Mỹ Kim, tăng gấp đôi so với năm 2008.

Trong khi đó, thị trường bất động sản sôi động đã dẫn đến mức tăng mạnh về doanh thu bán đất trong năm 2009 ở Trung Quốc, khiến sự kỳ vọng giá nhà sẽ còn tăng cao hơn nữa. Nhiều công ty, đặc biệt là các tập đoàn quốc doanh với quỹ dồi dào, có xu hướng đầu tư vào bất động sản để kiếm lợi nhuận nhanh chóng. Bản thân chính quyền địa phương còn “dựa dẫm” vào chuyện bán đất để có nguồn thu tài chính, họ cũng không muốn kiềm chế tình trạng giá tăng chóng mặt.

Ở khía cạnh khác, Trung Quốc còn phải đối mặt với gánh nặng nợ nần của các địa phương. Nhận định của nhóm các chuyên gia tài chính, đứng đầu là Giáo sư Kenneth Rogoff của đại học Harvard cho rằng, bong bóng khổng lồ tạo nên bởi gói kích thích kinh tế cùng với kỷ lục cho vay 1,400 tỉ Mỹ Kim riêng năm 2009 của chính quyền các địa phương đã khiến lạm phát trở nên khó kiểm soát và tạo nên “bong bóng nợ” (debt-fueled bubble).

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc có thể gặp nguy hiểm nếu các cơ quan tài chính do chính quyền ở các địa phương thành lập để đầu tư vào địa ốc và hạ tầng cơ sở không thể trả nổi món nợ quá cao. Ðiều này có thể đưa đến các rủi ro, vì một số cơ sở có sự hậu thuẫn tài chính của chính quyền địa phương, nhưng nhiều chính quyền địa phương rất khó khăn trong việc cân bằng cán cân ngân sách của họ.

Theo giới truyền thông Trung Quốc, các công ty tài chính trực thuộc chính quyền địa phương đã vay khoảng 6 ngàn tỉ NDT (tương đương 880 tỉ Mỹ Kim). Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu ở Mỹ, ông Victor Shih tại trường đại học Northwestern Univesity, ước lượng rằng con số các chính quyền địa phương Trung Quốc vay mượn từ năm 2004 đến 2009 lên đến 12 ngàn tỉ NDT (khoảng 1,6 ngàn tỉ Mỹ Kim).

Ngoài ra, những chính sách hỗ trợ công nghiệp đã duy trì sự tồn tại của các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả và dẫn đến hiện tượng dư thừa công sức không những gây ra lãng phí mà còn tạo sức ép bán rẻ sang các nước khác.

Tư bản Trung Quốc: Khi các thương gia và nhà đầu tư phương Tây trở nên chán nản với cảnh tham nhũng, thiếu sự năng lực quản lý và cơ sở pháp lý tại nhiều nơi ở châu Phi, Trung Quốc lại “nhiệt tình” bước vào nhằm tìm kiếm tài nguyên và thị trường cho các sản phẩm của mình. Ở hầu hết mọi nơi, họ được chào đón nồng nhiệt. Các chính phủ châu Phi không chỉ thích những đồng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty Trung Quốc, mà họ cũng đánh giá cao sự “thông hiểu” rằng mọi thỏa thuận sẽ được bôi trơn bằng những món quà và rằng việc cứ lên mặt phán về quyền chính trị và nhân quyền của các chính phủ phương Tây chỉ khiến họ không có nhiều “bằng hữu” trong số những nhà lãnh đạo châu Phi. Hơn 800 công ty nhà nước của Trung Quốc đang triển khai khoảng 900 dự án tại châu Phi, nhiều trong số đó thuộc ngành dầu lửa. Năm ngoái, thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và châu Phi đạt 107 tỷ Mỹ Kim, cao gấp 10 lần mức năm 2000 và gần gấp đôi giá trị năm 2006. Tuy nhiên, giá trị thương mại này cũng không tránh khỏi sự suy giảm do suy thoái xuống mức 37 tỷ Mỹ Kim trong 6 tháng đầu năm nay, so với 48 tỷ Mỹ Kim so với cùng kỳ năm 2008. Nhưng Bắc Kinh và các công ty nước này đã có tầm nhìn dài hạn và đã bơm 552 tỷ Mỹ Kim đầu tư vào châu Phi trong nửa đầu năm 2009. Tuy nhiên, nếu cứ nhìn vào những rào cản gần đây với tham vọng của ngành dầu khí Trung Quốc, thì việc tiếp cận của Trung Quốc với châu Phi có vẻ sẽ trở nên khó khăn hơn. Đã có những sự phản đối từ dân chúng từ Nam Phi, qua Đông Phi tới Nigeria và Tây Phi vì những thiệt hại chết người đối với ngành dệt địa phương và ngành sản xuất hàng hóa tiêu dùng do sự xâm nhập ồ ạt của hàng hóa Trung Quốc. Thợ mỏ và gia đình họ tại Zambia và vùng tỉnh biên giới nhiều khoáng sản phía đông nam Katanga, đã biểu tình chống lại mức độ an toàn kém và sự bóc lột lao động tại các mỏ than do Trung Quốc điều hành. Còn ở Zimbabwe nhiều người đã đổ xuống đường chống lại việc các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp quản các doanh nghiệp bán lẻ trong nước. Một nguyên nhân khác dẫn tới sự căng thẳng là các công ty Trung Quốc đang mua, hay chiếm dụng đất đai nông nghiệp vốn cung cấp thức ăn cung cấp cho lượng dân số đang ngày một tăng ở trong nước và sau đó là việc những lao động nhập cư Trung Quốc đến châu Phi hàng loạt. Trung Quốc có thể đã có những thành công và đạt được những mục tiêu nhất định tại châu Phi, nhưng điều này có vẻ đang thay đổi khi một số chính phủ cũng đã bắt đầu nhận ra được thái độ không hài lòng của người dân đối với sự hiện diện của Trung Quốc tại đây.

Phản ứng từ các quốc gia đầu tư: Việc dọn các công ty sang Trung Quốc, hay chỉ một phần của công ty, đã làm nhiều người bị mất việc, tạo ra nhiều xáo trộn về kinh tế và xã hội tại nhiều quốc gia. Tại Mexico, trong 5 năm gần đây, đã có 230,000 nhân công bị thất nghiệp. Trong lãnh vực quần áo, hàng vải, hàng hóa Trung Quốc đã khiến 50% kỹ nghệ này ở Hoa Kỳ, Canada, và Tây Âu bị phá sản. Kỹ nghệ đóng giầy ở Nam Dương bị phá sản. Ở Âu châu, 50,000 thợ đóng giầy mất việc. Kỹ nghệ làm giầy ở Canada thì chỉ còn sản xuất cho thợ thuyền và quân đội. Tuần báo Christian Science Monotor trong thời gian gần đây, đã cảnh cáo Hoa Kỳ về hiểm họa Trung Quốc. Quả vậy Hoa Kỳ đâu có ngồi yên nhìn Trung Quốc tung hoành. Có lẽ người Mỹ đã bắt đầu thức tỉnh nên Trung Quốc đã không mua được hãng Maytag của Mỹ. Trung Quốc đã không mua được hãng dầu Unocal của Mỹ khi Quốc Hội Hoa Kỳ can thiệp để ngăn chặn công ty dầu khí CNOOC (Chinese National Offshore Oil Corporation) không mua được công ty Unocal dù Trung Quốc đã trả với giá 18.5 tỷ Mỹ Kim. Một số quốc gia đang lặng lẽ rút đầu tư từ Trung Quốc sang các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Chẳng có một quốc gia nào lại ngu xuẩn đầu tư vào một nước đang trở thành đối thủ của mình.

2.TÀI CHÁNH:

Từ nhiều năm, Trung Quốc cố giữ đồng NDT (NDT) yếu so với đồng Mỹ Kim nhằm thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Cuộc chiến tiền tệ giữa đồng Mỹ Kim và đồng Nhân Dân Tệ (NDT) là một cuộc chiến dai dẳng. Đồng NDT được Mao Trạch Đông chánh thức thiết lập năm 1948, sau khi đã chiếm được toàn thể nước Tầu. Lúc đó hối suất của NDT là 1 MK = 400 NDT. Từ năm 1952 đến năm 1973, hối suất là 1 MK = 2.42 NDT. Trong giai đoạn này Trung Quốc không có ngoại thương với các nước Tây Phương nên hối suất này không có mảy may ảnh hưởng gì. Trong thập niên 80 và 90, kinh tế của Trung Quốc bắt đầu tiến triển, hối suất được thay đổi, 1 MK = 5.9 NDT. Từ sau 1994, đồng NDT, theo đúng lệnh của đảng Cộng Sản Trung Quốc qui định, được ấn định lên xuống trong khoảng 8,2 - 8,3 NDT = 1 MK. Dựa vào sự chao đảo của đồng Mỹ Kim theo hối suất quốc tế, hàng hóa xuất cảng của Trung Quốc có giá thấp nên chiếm được thị trường. Trong công cuộc buôn bán với Mỹ, Trung Quốc tìm cách kềm hãm đồng NDT ở 1 hối suất thấp để giữ giá hàng rẻ. Quốc tế, đứng đầu là Hoa Kỳ, gây áp lực bắt Trung Quốc phải nâng giá đồng NDT để tạo sự ổn định của nền kinh tế thế giới. Suy diễn một cách dễ hiểu là khi đồng NDT tăng giá so với đồng Mỹ Kim, hàng hóa của Trung Quốc cũng tăng giá theo đồng tiền. Ưu thế của hàng hóa của Trung Quốc là giá rẻ sẽ bị hóa giải, kéo theo sự giảm dần ưu thế kinh tế của nước này. Từ năm 2003, ngoài Mỹ, các nước ở Âu Châu, Nhật, các nước ở Nam Mỹ cũng như Quĩ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) đều áp lực, bắt Trung Quốc tăng giá đồng NDT. Cuộc chiến kéo dài tới tháng 9 năm 2003 thì hầu hết giới chủ ngân hàng trên thế giới nhập cuộc, bắt Trung Quốc phải tăng hối suất của đồng NDT từ 20 đến 40%. Nếu không, đồng NDT sẽ không được chấp nhận như 1 bản vị khi luân lưu thương mại:

Ngày 21 tháng 7 năm 2005, Trung Quốc quyết định hủy bỏ hối suất cố định của đồng NDT, thả nổi đồng NDT, chấp nhận các thiệt hại do việc phá giá này. Xin nhắc lại phá giá đồng NDT từ 8.277 = 1 Mỹ Kim xuống 8.11 NDT = 1 Mỹ Kim ( tăng 2,1% ) khiến nhà nước Trung Quốc thiệt hại 10 tỷ Mỹ Kim.
Năm 2006, dưới áp lực của Hoa Kỳ, Trung Quốc lại phải điều chỉnh hối suất, 1 Mỹ Kim = 8.06 NDT. Hậu quả là mội sự tăng giá đồng NDT sẽ làm tăng vật giá nhập khẩu, gia tăng lạm phát. Trung Quốc, sau khi phá giá đồng NDT, đã cảnh cáo Hoa Kỳ là những áp lực cứng rắn của Hoa Kỳ về hối đoái sẽ đưa Trung Quốc đi đến quyết định bán 600 tỷ công khố phiếu của Hoa Kỳ mà hiện giờ Trung Quốc đang nắm giữ. Việc này có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng tài chánh giữa hai nước và cả thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929.
Từ vài tháng gần đây, Hoa Kỳ đang phá giá đồng Mỹ Kim của họ. Tiền Mỹ mất giá sẽ nâng các ngoại tệ khác như đồng Euro, đồng Yen, đồng NDT lên cao. Điều này đã kịp thời cứu sống nền kinh tế của Hoa Kỳ bị lung lay từ mấy năm nay, có thể đưa đến chỗ sụp đổ vì thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc. Đồng Mỹ Kim giảm giá sẽ nâng cao đồng NDT theo hối suất thả nổi hiện nay, khiến cho hàng hóa xuất cảng của Trung Quốc sẽ không còn giá rẻ như trước nữa, giảm khả năng cạnh tranh với hàng hóa của các nước Âu Mỹ.
Sự tăng trưởng mất cân đối của Trung Quốc cũng đang gây ra những khó khăn trên trường quốc tế. Trung Quốc gắn giá trị của đồng nhân dân tệ với đô la Mỹ vào năm 2008 để giữ mức xuất khẩu cạnh tranh cho các nhà sản xuất trong bối cảnh nhu cầu hàng hóa giảm do suy thoái kinh tế toàn cầu. Chính sách tỉ giá của Trung Quốc là ưu tiên cao nhất mà Hoa Kỳ bắt buộc phải điều chỉnh.
Trong hội nghị thượng đỉnh kinh tế Hoa Kỳ - Trung Quốc tháng 5-2010, chủ đề tiền tệ là ưu tiên trước hết của nghị trình đàm phán. Mỹ cho rằng nhân dân tệ bị cố tình định giá thấp để Trung Quốc một lợi thế không lành mạnh khi xuất khẩu sang các thị trường toàn cầu. Một số nhà phân tích cho rằng đồng nhân dân tệ hiện đang bị định giá thấp tới 40% giá trị thực. Trung Quốc đã cam kết tiếp tục cải cách chính sách tỷ giá trong phần đầu của các cuộc đàm phán thương mại cấp cao với Hoa Kỳ. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cho biết ông sẽ tìm kiếm sự "tiến bộ dần dần" về cải cách tỷ giá hối đoái của đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. "Trung Quốc sẽ tiếp tục đều đặn việc cải cách cơ chế tỷ giá hối đoái ... theo nguyên tắc độc lập trong quyết định, có kiểm soát và tiến bộ dần dần," chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói; tuy nhiên ông không đưa ra thời gian biểu cho việc cải cách tỷ giá hối đoái. Ngày 25 tháng 6 năm 2010 chỉ tệ của Trung Quốc tăng tới mức cao nhất trong vòng nhiều năm, sau khi Bắc Kinh cam kết để cho đồng Nguyên được trao đổi với đồng Mỹ Kim một cách tự do hơn. Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc đã ấn định tỉ giá của đồng Nguyên ở mức 6.789 đồng Nguyên ăn một Mỹ Kim, tăng 0.3% so với giá hôm qua. Tuần trước, Bắc Kinh loan báo sẽ để cho đồng nguyên dao động theo một nhóm ngoại tệ, chấm dứt việc nối kết giá trị đồng Nguyên với đồng Mỹ Kim ở mức gần 6.83 trong vòng hai năm nay. Sự thay đổi này được loan báo trong lúc chính phủ Trung Quốc gặp phải áp lực ngày càng tăng của Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác. Tổng Thống Hoa Kỳ Obama nói quyết định của Trung Quốc để cho chỉ tệ của họ tăng giá so với đồng Ðô La của Mỹ sẽ cần phải theo dõi trong quá trình cả năm.

3.NĂNG LƯỢNG:

Do sự tăng trưởng kinh tế nên mấy thập niên qua, Trung Quốc đã tiêu thụ một số năng lượng khổng lồ. Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế AIE, được hai tờ báo Financial Times và Wall Street Journal hôm 20/07/2010 trích dẫn, đã khẳng định: Trung Quốc đã nhanh chóng qua mặt Hoa Kỳ trong việc tiêu thụ năng lượng. Bắc Kinh đã phản bác tin cho là Trung Quốc đang trở thành nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu thế giới. Theo số liệu của AIE, năm 2009, tính tương đương với dầu hoả, Trung Quốc đã tiêu thụ 2,252 tỷ tấn nhiên liệu, hơn Hoa Kỳ đến 4%. Ông Fatih Birol, một lãnh đạo cơ quan AIE ghi nhận là vào năm 2000, mức năng lượng Hoa Kỳ tiêu thụ cao gấp đôi Trung Quốc, nhưng bây giờ thì Trung Quốc đã qua mặt nước Mỹ. Tiêu thụ năng lượng của Hoa Kỳ đang đến mức bão hòa, nhưng ông cũng nói thêm là từ năm 2005, Mỹ đã có nhiều cố gắng để sử dụng năng lượng một cách hiệu quả hơn.

Sự tập trung vào các ngành công nghiệp nặng, tiêu thụ nhiều năng lượng (chẳng hạn như thép, nhôm, và hóa chất) buộc Trung Quốc phải tìm kiếm không ngừng nghỉ các nguồn cung cấp năng lượng trong nước cũng như khắp nơi trên thế giới. Điều này làm quá trình tăng trưởng thiếu tính chất bền vững và không hài hòa với bối cảnh kinh tế toàn cầu. Nguồn năng lượng trong nước không đủ cho nền kinh tế đang phát triển nên Trung Quốc phải tìm thêm nguồn năng lượng nhập cảng từ các nước ngoài. Trong nỗ lực này Trung Quốc đã phải tìm đến các nước ở Phi Châu, Trung Á và Nam Mỹ. Mỗi ngày Trung Quốc tiêu thụ 6.7 triệu thùng dầu, hạng nhì sau Hoa Kỳ. Các quốc gia đang cung cấp dầu hỏa cho Trung Quốc là :

-Angola, Saudi Arabia, Soudan: mỗi nước độ 500,000 thùng mỗi ngày.
-Nga, Oman: mỗi nước độ 300,000 thùng mỗi ngày.
-Congo, Yemen, Equator, Venezuela: mỗi nước độ 150,000 thùng mỗi ngày.

Như vậy Trung Quốc đã đụng độ với Hoa Kỳ từ Phi Châu, Nam Mỹ qua Trung Á. Đây là một cuộc chiến sinh tử cho Trung Quốc. Cuộc đụng độ với Mỹ ở Darfour, ngay sát nách Tchad, một quốc gia Phi Châu được Trung Quốc tài trợ, chỉ là một thí dụ điển hình về cuộc chiến về năng lượng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ngoài Hoa Kỳ, Trung Quốc còn phải đối phó với Nhật Bản trong lãnh vực này. Đầu tháng Năm trước đây, Nhật-Nga đã quyết định hợp tác về kinh tế và năng lượng với việc Nhật Bản đầu tư vào khu vực Viễn Đông của Nga và vào cả Cộng Hòa Mông Cổ ngay biên giới Trung Quốc. Nếu đôi bên mà giải quyết được hồ sơ Kuril, chuyện Nga và Nhật bắt tay nhau trên đầu Trung Quốc sẽ làm lãnh đạo Bắc Kinh mất ngủ:

Chuyên chở: Trung Quốc chỉ có khả năng chuyên chở 15% dầu nhập cảng bằng tầu Trung Quốc. Việc vận chuyển dầu phải đi qua các hải phận do Anh, Mỹ kiểm soát (kinh đào Suez, eo biển Ormuz trên vịnh Ba Tư, eo Malacca). Khi có cuộc khủng hoảng, con đường tiếp tế dầu này dễ bị phong tỏa.

Vai trò của Nga Sô: Nga đang cố gắng để hưởng lợi tối đa trong cuộc chiến năng lượng này. Nga đứng thứ 8 trong 20 nước có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới (Saudi Arabia, Gia Nã Đại, Iran, Iraq, Kuwai, United Arab Emirates, Venezuela, Nga Sô, Lybia, Nigeria, Kazakhstan, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Quatar, Algeria, Brazil, Mexico, Angola, Azerbaijan và Norway). Nga Sô đang cố gắng để trở lại thời hoàng kim Liên Bang Sô Viết nhưng việc này không phải là dễ. Dựa vào xuất cảng dầu khí không phải là một yếu tố quyết định để có thể cầm cự ngang ngửa với Hoa Kỳ nhất là sau khi vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 mà giá dầu chỉ còn 60 Mỹ Kim một thùng. Ngay các nước Trung Á mà Nga Sô xem như là sân sau của mình cũng đã có những quyết định để bảo vệ sự độc lập của mình. Hợp đồng trị giá 5 tỷ Mỹ Kim giữa Thổ Nhĩ Kỳ với Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Âu để xây dựng một đường ống dẫn khí không qua lãnh thổ Nga đã được ký kết gần đây. Với đường lối chiến lược mới của tổng thống Obama, Nga Sô chắc sẽ hưởng được nhiều lợi lộc hơn khi hợp tác với Hoa Kỳ. Trong năm 2009, Nga bắt đầu nới lỏng những giới hạn về đầu tư trong lãnh vực dầu khí để hấp dẫn những đại công ty năng lượng của Hoa Kỳ và Tây Âu.

Trung Đông: Tại Trung Đông, Saudi Arabia, Kuwai, United Arab Emirates là những đồng minh lâu năm với Hoa Kỳ. Trước khi đề cập đến Iraq và Iran, tưởng cũng cần nhắc lại đường lối chính trị của đại tá Khadafi của Lybia. Lên cầm quyền năm 1969, Khadafi chủ trương một chủ nghĩa quốc gia cực đoan chống Tây Phương và chủ trương khủng bố dựa vào tài nguyên dầu lửa đứng thứ 9 thế giới. Ngày 15 tháng 4 năm 1986, tổng thống Ronald Reagan ra lệnh không kích Tripoli với chiến dịch có tên là El Dorado, gây thiệt hại cho một số quân và thường dân trong đó có cô con gái nuôi của Khadafi tên Hannah sau khi được tin tình báo cho biết Lybia dính líu vào vụ đặt chất nổ tại một câu lạc bộ La Belle tại Tây Bá Linh mà các quân nhân Đồng Minh hay lui tới. Năm 1988, chuyến bay Pan Am Flight 103 bị đặt chất nổ trên không phận Lockebie, Scotland với 270 người chết. Tình báo sau đó cho biết 2 điệp viên của Lybia dính líu đến vụ này. Trong thập niên 90, Lybia chịu sự cấm vận của Hoa Kỳ và Tây Phương. Khadafi âm thầm sữa lại đường lối ngoại giao của mình. Năm 2003, Lybia chính thức xác nhận trách nhiệm của mình và đồng ý bồi thường 2.7 tỷ Mỹ Kim cho các nạn nhân. Bên trong, Lybia đã để cho các công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ và Anh Quốc trở lại khai thác và sự liên hệ ngoại giao giữa Lybia và Hoa Kỳ cũng như các nước Tây Âu đã được nối lại và Khadafi vẫn vững tâm trong vị thế của mình. Sadam Hussein của Iraq đã không học được những bài học của Khadafi. Trong cuộc chiến 8 năm giữa Iraq-Iran, Hoa Kỳ đã giúp cho Sadam những viện trợ cần thiết. Khi Iraq quyết định tấn công Kuwait vào năm 1990 vì vấn đề dầu hỏa, Hoa Kỳ đã giúp Kuwait phản công và đánh gục Sadam vào năm 1991. Năm 2003, Hoa Kỳ lại tấn công Iraq lần thứ 2 viện cớ Iraq ủng hộ các tổ chức khủng bố và tàng trữ vũ khí giết người  hàng loạt. Hiện nay còn quá sớm để phán xét quyết định đánh Iraq của tổng thống Georges  Bush có phải là một lỗi lầm hay không nhưng Sadam Hussein đã phạm một sai lầm quá lớn khi dùng các công ty của Nga, Trung Quốc, Đức, Pháp, Ý để loại bỏ các công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ và Anh Quốc. Sadam tính toán rằng các nước này có thể cân bằng thế lực của Hoa Kỳ nhưng ông ta đã tính lầm và chung cuộc đã trả giá bằng sự sụp đổ của chế độ và cái chết của mình. Chính phủ mới của tổng thống Obama đang giảm những lực lượng tác chiến nhưng quyền lợi Hoa Kỳ chiến lược trong khu vực này đã được tái lập. Nay thì cuộc tranh chấp mới với Iran đang tiếp diễn với lý do chương trình phát triển võ khí nguyên tử của nước này. Hy vọng những người lãnh đạo Iran học được những bài học từ Khadafi và Sadam Hussein.

Phi Châu và Mỹ Châu: Trong số 20 quốc gia với trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới thì Canada và Mexico là 2 quốc gia trong khối NAFTA. Trung Quốc có lợi thế là khối dự trữ Mỹ Kim khổng lồ cũng như không để vấn đề tham nhũng, độc tài, nhân quyền chen lẫn vào vấn đề buôn bán nhưng Hoa Kỳ có lợi thế là người Mỹ gốc Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh là 2 chủng tộc chính tại Hoa Kỳ. Các nước tại Phi Châu cũng như Châu Mỹ La Tinh cũng không lấy gì làm vui lòng khi thấy những chủ nhân ông người da vàng. Trung Quốc đang bị nhiều nước Á Phi nghi ngờ là có tinh thần thực dân mới. Những năm qua, trong khi những dân thường châu Phi vẫn phàn nàn và thậm chí biểu tình phản đối những ảnh hưởng không tốt của một thập kỷ đầu tư có chủ đích vào châu lục này của Trung Quốc, thì giờ đây mới có những dấu hiệu ban đầu rằng chính phủ các quốc gia châu Phi đang tỏ ra không hài lòng về “sự hào phóng” từ phía Bắc Kinh.

Trung Á: Các nước Trung Á theo Hồi Giáo có những nguồn dầu khí khá lớn. Kazakhstan đứng thứ 11 và Azerbaijan đứng thứ 19 trong số 20 quốc gia có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới.Turkmenistan là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ tư trên thế giới. Vụ Tân Cương sẽ ảnh hưởng đến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước này.

CHÍNH TRỊ & XÃ HỘI

1.TÂN CƯƠNG VÀ TÂY TẠNG:

Tân Cương đã được sát nhập vào lãnh thổ Trung Hoa từ các triều đại phong kiến. Ngày 15 tháng 10 năm 1951, Trung Quốc kéo quân vào chiếm Tây Tạng, chiếm đóng xứ này cho tới ngày nay. Lãnh thổ Tân Cương với vị trí chiến lược về cả an ninh lẫn kinh tế không chỉ là vùng phiên trấn bảo vệ các tỉnh nội địa mà trở thành trung tâm công nghiệp khoáng sản và trạm trung chuyển năng lượng buôn bán với 4 nước Cộng Hòa Trung Á: Kazakhstan, Uzbekistan, Kyroystan và Tajikistan. Phía Nam là 2 nước hồi giáo khác Afghanistan và Pakistan là hành lang xuống Ấn Ðộ Dương. Xa hơn nữa là Thổ Nhĩ Kỳ - hậu thân của đế quốc Ottoman – cùng nguồn gốc với dân Uighurs và Azerbaijan bên bờ biển Caspian. Những lực lượng Hồi giáo quá khích cũng có căn cứ trong khu vực này. Sau vụ khủng bố 9-11 tại Mỹ năm 2001, Bắc Kinh đã khéo dụ dỗ chính quyền Bush đặt tổ chức  ETIM (Phong trào Đông Thổ) vào thành phần khủng bố nhưng trong thực tế mục đích chính của lực lượng này là giải phóng  dân Hồi Giáo ra khỏi vòng thống trị của Trung Hoa.

Sau nhiều thập niên kỳ thị, đàn áp và đồng hóa các sắc dân thiểu số dưới sự khống chế của tộc Hán, thế hệ lãnh đạo thứ tư của Bắc Kinh - Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo – cũng vẫn tiếp tục chính sách đồng hóa. Chính quyền Trung Quốc làm bộ cất nhắc dân thiểu số có khả năng, thứ hai là đưa họ ra khỏi các khu vực tập trung đi kiếm việc ở nơi khác - như dân Tây Tạng từ Khu Tự trị Tây Tạng đi vào Tứ Xuyên, Cam Túc; dân Hồi từ Khu Tự trị Tân Cương đi qua Vân Nam, Quảng Đông - đồng thời, đưa người Hán vào các khu tự trị này để pha loãng mật độ thiểu số. Tân Cương có gần 20 triệu dân thì người Hán chiếm tỷ lệ 46/54 so với dân Uighurs, riêng tại thủ phủ Urumqi, người Hán làm chủ tuyệt đối với 73% dân số. Song song với việc hòa trộn sắc dân, lãnh đạo Bắc Kinh đề cao chủ nghĩa Đại Hán cho rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc đã đưa nước này lên ngôi vị cường quốc được cả thế giới nể trọng.

Vụ khủng hoảng Urumqi bùng nổ hôm 5 tháng 7 năm 2009 vì một vụ ẩu đả giữa người Hán và người Hồi tại thành phố Thiều Quang của Quảng Đông khiến hai người Hồi bị giết vào đêm 25 tháng 6. Mười ngày sau, khi thấy nhà chức trách chưa cho biết kết quả điều tra, dân Hồi tại Urumqi mới biểu tình và xô xát xảy ra với người Hán khiến nhiều người mất mạng. Làn sóng phẫn uất của dân Hồi mới dẫn tới bạo loạn. Tại thủ phủ Urumqi, hôm mùng 10, lệnh giới nghiêm lại được tái lập và lực lượng cảnh sát võ trang - đã phải dẹp mấy trăm người biểu tình gần một ngôi đền Hồi giáo. Thành phố Urumqi chỉ có gần ba triệu dân, với 73% là người Hán, mà phải được tăng phái hai vạn lính - tương đương với hai sư đoàn - để ổn định tình thế.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải lật đật bỏ Thượng đỉnh G-8 tại Ý để về theo dõi tình hình Tân Cương đã nói lên tầm quan trọng của biến cố này. Tân Cương chỉ là biểu hiện của nhiều sóng ngầm bên dưới và bên ngoài, làm lãnh đạo Bắc Kinh thấy như đang ngồi trên lửa. Dù rằng với một dân số 1.3 tỷ dân mà 92% là người Hán với một chế độ cai trị khắc nghiệt, xung đột ở Urumqi hay các thị trấn khác tại Tân Cương có thể lan tràn qua nhiều nơi khác dọc theo các vùng tự trị dọc theo biên giới phía Tây của Trung Quốc và xung đột chủng tộc với các sắc dân Mãn, Mông, Hồi, Tạng có thể đưa đến sự sụp đổ của đế quốc Trung Hoa như sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết trước đây.

Đặc biệt là phản ứng của chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ của thủ tướng Reep Tayyip Erdogan trong vụ này. Quên hẳn việc tuần trước, tổng thống Abdullah Gul vừa thăm Trung Quốc và ghé Tân Cương để gọi cộng đồng Uighurs tại đây là “cây cầu hữu nghị” giữa hai quốc gia, ngoại trưởng rồi chính thủ tướng Thổ bỗng tri hô rằng dân Uighurs tại Tân Cương cũng là đồng bào người Thổ và Bắc Kinh không nên đàn áp họ. Thủ tướng Erdogan còn dùng ngay cái ghế mà xứ Thổ đang có trong Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để yêu cầu tổ chức này can thiệp. Qua Thứ Năm mùng 10, thủ tướng Thổ còn lên truyền hình gọi vụ Tân Cương là “diệt chủng, chẳng có các giải thích nào khác!” Một lời cáo buộc rất nặng từ một quốc gia đã từng bị dư luận lên án là tàn sát - diệt chủng - dân Armenia. Dư luận dân chúng trong nước và trong đảng cầm quyền đã quyết liệt đả kích Bắc Kinh và đòi tầy chay hàng hóa Trung Quốc. Chắc chắn đã có chuyện gì khiến Thổ mạnh miệng như vậy.

Các chuyên gia ngoại quốc như  giáo sư Roger Wei, chuyên gia về địa chính trị và Trung Quốc học tại đại học Sorbonne Paris, giáo sư  Jean-Pierre Cabestan, một chuyên gia người Pháp khác về Trung Quốc ở đại học Baptist ở Hong Kong,  các chuyên gia Trung Quốc học của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) và giáo sư Claude Levenson nhận định hai sự kiện Tân Cương, tháng 7/09 với ít nhất gần 200 người thiệt mạng và Tây Tạng, tháng 3/08 với trên 200 người chết, đều bắt nguồn từ những nguyên nhân như nhau. Cơ bản, nó nằm ngay trong các chính sách khai thác quá đáng đi kèm với phân phối bất công về tài nguyên, nguồn lực của chính quyền trung ương đối với người dân bản địa. Thêm vào đó là chính sách di dân cưỡng bức người Hán, tộc người chiếm đa số, vốn lâu nay gây nhiều bất bình và xáo trộn với cộng đồng các sắc dân bản địa. Nhiều người dân bản địa thường xuyên sống trong tình trạng hận thù và sợ sệt tạo nên sự bất ổn định nội bộ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thất bại trong xây dựng một xã hội hài hòa trong đó sự đối thoại, thương lượng, nhượng bộ lẫn nhau và đặc biệt là sự tôn trọng thực sự quyền lợi và lợi ích của các sắc dân địa phương. Điều này chỉ có được nếu tại Trung Quốc có một thể chế dân chủ hơn, thực sự tôn trọng nhà nước pháp quyền và các quyền dân chủ của người dân.

Rất khó để chính quyền và đảng cộng sản Trung Quốc có thể giải quyết ổn thỏa được tình hình nội bộ ở Tân Cương, nguyên nhân chính của các vấn đề không chỉ nằm trong lịch sử vốn dĩ đã rất phức tạp. Cách giải quyết của hai vụ nổi dậy nếu đơn thuần chỉ sử dụng bạo lực sẽ chỉ có thể làm xấu thêm vấn đề vì bạo lực hôm nay sẽ chỉ dẫn tới bất ổn ngày mai. Cả hai vụ việc đều cho thấy các nguy cơ bất ổn nghiêm trọng tiềm ẩn trong lòng Trung Quốc và xã hội này không ổn định và vững chắc như vẫn tưởng.

“Nghị hội Uighurs Thế giới” của bà Rebiya Kadeer được thành lập vào năm 2006 là một tổ chức đấu tranh ôn hòa theo khuôn phép bất bạo động của Đức Đại Lai Lạt Ma để đòi quyền sống của 2 dân tộc Uighurs và Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được tiếp đón trên khắp thế giới như là vị lãnh tụ tinh thần của dân tộc Tây Tạng bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Trung Quốc. Bà Rebiya Kadeer vùa mới đây được nhập cảnh vào Nhật Bản để dự một cuộc hội thảo về quyền sống của dân tộc Uighurs. Cả hai phong trào này đã và đang là vết nhức mà Trung Quốc không dễ đối phó.

Trong năm 2011 đã có ít nhất 15 tu sĩ Phật giáo Tây Tạng đã tự thiêu để phản đối chính sách cai trị tàn bạo và đàn áp tôn giáo của chính quyền Bắc Kinh đối với người Tây Tạng bị coi là thiểu số tại Hoa Lục.

2.CÁCH BIỆT GIÀU NGHÈO & BẤT ỔN XÃ HỘI

Theo thống kê của Trung Quốc, song song với sự thành tựu kinh tế, hàng trăm triệu dân Trung Quốc đã thoát cảnh nghèo khổ nhưng cho đến năm 2005, vẫn có 10.8% dân Trung Quốc (140 triệu dân) sống trong cảnh nghèo khổ với lợi tức kém hơn 1 Mỹ Kim mỗi ngày (điều chỉnh theo PPP). Những con số sau đây cho thấy những điều đáng ghi nhận:

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng với 10% thành phần giàu nhất chiếm 45% tổng số tài nguyên quốc gia trong khi 10% thành phần nghèo khó chỉ có 1.4% tổng số tài nguyên quốc gia. Những con số thống kê mới công bố cho thấy trong 22 năm qua, lương công nhân Trung Quốc chỉ chiếm 20% GDP. Cuối cùng, cách biệt cũng còn bị đào sâu nhanh chóng giữa các nhóm xã hội. Các quan chức cao cấp trong các doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực chứng khoán thu nhập gấp khoảng 18 lần so với nhân viên của chính các doanh nghiệp này, và gấp 128 lần so với mức lương trung bình ở Trung Quốc. Trung Tâm Nghiên Cứu về phân phối thu nhập và sự nghèo đói tại Trường Sư Phạm Bắc Kinh, đã tham gia bốn cuộc điều tra lớn về thu nhập của các hộ gia đình từ những năm 1980 cho thấy cách biệt giữa 10% người có thu nhập cao nhất và 10% người có thu nhập thấp nhất ngày càng bị đào sâu, từ 1/7.3 vào năm 1988 thành 1/23 vào năm 2007.
Các thống kê của Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách Xã Hội thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Trung Quốc cho thấy thu nhập có tăng lên trong những năm qua, cả ở những hộ giàu lẫn hộ nghèo. Thế nhưng nếu xem xét cách thức tiêu dùng sẽ nhận ra phần lớn chi tiêu của các hộ nghèo là cho lương thực và các sản phẩm thiết yếu, những thứ bị tác động nặng nề nhất của nạn lạm phát. Do vậy, cách biệt trong phân phối thu nhập biểu hiện một xu hướng tăng lên hết sức nguy hiểm. Một thống kê khác cho thấy 1% những hộ giàu nhất Trung Quốc nắm giữ 41,4% tài sản quốc gia, khiến Trung Quốc trở thành một trong những nước có sự phân biệt giàu nghèo lớn nhất.
Giữa các thành phần trong xã hội, sự cách biệt nghiêm trọng nhất là giữa thành thị và nông thôn. Theo thông báo của cơ quan thống kê Quốc Gia Trung Quốc, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực thành thị của nước này trong năm 2009 là 17,175 NDT (2,500 USD), trong khi ở nông thôn chỉ là 5,153 NDT (750 USD). Trong số 54,000 gia đình ở thành phố và thôn quê được thống kê thì lợi tức của 10% thành phần giàu có tăng 11.8 lần so với 10.9 của 10% thành phần nghèo. Trung Quốc càng tăng trưởng thì khoảng cách về thu nhập giữa hai khu vực này càng rộng ra. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực thành thị cao hơn gấp ba lần khu vực nông thôn trong khi quan hệ này trên thế giới tối đa chỉ hai lần. Khoảng cách về tiền lương cũng rất lớn giữa các ngành nghề với mức lương cao nhất gấp 15 lần so với mức lương thấp nhất. Với hơn 700 triệu dân vẫn ở các vùng thôn quê, sự cách biệt này đã và đang tạo ra hàng loạt các vấn đề nhức nhối trong phạm vi toàn xã hội.
Các ngành kinh doanh đất đai, khai thác mỏ và chứng khoán, phần lớn nằm trong tay đảng và nhà nước, đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho việc làm giàu nhanh, nhưng cũng là ba nhân tố chính làm cách biệt giàu nghèo ngày càng sâu sắc ở Trung Quốc. Những ngành nghề này đã giúp một bộ phận nhỏ người Trung Quốc trở thành tỉ phú chỉ sau một đêm. Chẳng thế mà trong danh sách những người giàu nhất Trung Quốc do tạp chí Forbes 2009 xếp hạng, trong 400 người đứng đầu thì hết 154 người là nhà đầu tư bất động sản và năm trong 10 người đầu bảng cũng là từ lĩnh vực bất động sản. Các chủ đầu tư mua đất của nông dân với giá rẻ mạt, xây nhà và bán lại với giá cao ngất ngưởng. Một phần chênh lệch giữa giá mua đất và giá bán nhà chảy vào nguồn ngân sách địa phương, nhưng phần lớn trở thành tài sản của các nhà đầu tư. Nhóm người kiểm soát các hầm khai thác mỏ cũng phất lên giàu sụ. Ở huyện Tả Vân, tỉnh Sơn Tây có đến hàng trăm tỉ phú hầm mỏ. Trong khi thu nhập bình quân đầu người của một nông dân địa phương thấp hơn mức trung bình của Trung Quốc. Sự phân bố nguồn tài nguyên không đồng đều đã góp phần nới rộng chênh lệch giàu nghèo ở các vùng miền. Các ông chủ hầm mỏ giàu lên trong tích tắc là do thuế đánh trên các nguồn tài nguyên thấp, giá khai thác thấp, phí môi trường hầu như bằng không.Cuối cùng là thị trường chứng khoán. Người giàu có tiền đầu cơ thì càng giàu thêm, còn người nghèo thì càng nghèo.“Nếu khoảng cách này cứ càng lớn hơn nữa thì hậu quả sẽ cực kỳ khủng khiếp” - giám đốc Viện Nghiên cứu và phát triển xã hội Trung Quốc, báo động.
Ngoài ra, lợi tức không phân phối đồng đều cho các vùng. Các thành phố, vùng kỹ nghệ dọc duyên hải tăng trưởng nhanh hơn các vùng thôn quê cũng như các khu tự trị phía Tây. Đã có 58,000 vụ chống đối của nông dân trong năm 2005.
Các tỉnh phía Nam như Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây lại phát triển tương đối mạnh, hưởng những lợi lộc khi buôn bán với Việt Nam. Đây là một vấn đề chiến lược mà Việt Nam cần để ý dù rằng là một con dao 2 lưỡi.
Cơ quan thống kê quốc tế dùng chỉ số Gini để so sánh chênh lệch giàu nghèo. Hệ số này đi từ 0 đến 1, với con số càng cao thì mức độ bất bình đẳng càng nhiều. Các nước Tây Âu có chỉ số giàu nghèo từ .24 cho đến .36. Hệ  số Gini của Trung Quốc đã tăng liên tục trong nhiều năm qua, từ 0.257 trong năm 1990 lên đến 0.473 trong năm 2007. Dù còn nhiều ý kiến khác nhau về giá trị của hệ số Gini, nhưng giới đại học thường thừa nhận con số 0.47 do Ngân hàng Thế giới đưa ra. Viện Nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Ủy ban Cải cách và phát triển Trung Quốc, nhận định: “Sau mười năm vượt ngưỡng 0.4 - mức thường được xem là báo động trên bình diện thế giới, hệ số Gini của chúng ta cứ tiếp tục tăng qua các năm, và giờ cách biệt giàu nghèo đã vượt qua ngưỡng phải lẽ rồi”. So sánh với các nước khác, Trung Quốc có hệ số Gini cao hơn Ấn Độ và các nước trong khu vực, ngoại trừ Sri Lanka. Điều này không là trở ngại khi kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển; tuy nhiên khi kinh tế chậm lại thì xã hội Trung Hoa sẽ là một quả bom nổ chậm.
Chính quyền Bắc Kinh đã nâng cảnh báo an ninh toàn quốc lên mức cao nhất - lần đầu tiên kể từ Thế vận hội Olympic 2008 - sau một loạt vụ giết người ở trường học và nhà trẻ, mẫu giáo làm ít nhất 27 người thiệt mạng và khoảng 100 người bị thương. Bộ Công an và Bộ Giáo dục cùng các cơ quan hữu quan khác đã vào cuộc nhằm đảm bảo an toàn cho các quận có trường học. Theo các thông tin chính thống của Trung Quốc, đã xảy ra 7 vụ giết người từ ngày 23/3 đến 19/5 tại các nhà trẻ, mẫu giáo, trường tiểu học và ít nhất một trường cấp hai ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Giang Tô, Sơn Đông và Hải Nam. Theo báo chí Hong Kong, khoảng một chục vụ khác nhỏ hơn chưa được thống kê. Hung thủ đã bị tử hình 16 ngày sau khi gây án. Động cơ của hắn được báo giới đăng là do bất mãn vì thất bại trong kinh doanh và vì bị sa thải bất công khỏi một công việc trước đó.
Ngoài các vụ tấn công trường tiểu học và mẫu giáu, sự hài hòa xã hội Trung Quốc đã bị phá vỡ bởi các vụ việc liên quan đến người lao động. Công nhân Trung Quốc cho biết là lương của họ thấp hơn các đồng nghiệp Nhật Bản tới 50 lần. Trước tiên phải kể đến hàng loạt vụ tự tử trong năm 2010 của 11 công nhân nhà máy linh kiện máy tính của Đài Loan ở Thâm Quyến, thuộc tập đoàn Hồng Hải (còn gọi là Foxconn). Sau đó là ý định tự sát bất thành của ít nhất 20 công nhân trong cùng nhà máy này. Loạt tự tử tại nhà máy Đài Loan Foxconn ở phía nam Trung Quốc và những vụ đình công liên tiếp tại các cơ sở của Honda đã buộc giới chủ các doanh nghiệp phải đáp ứng yêu sách đòi tăng lương của công nhân Trung Quốc, nhằm duy trì sản xuất và giữ gìn uy tín, hình ảnh của các tập đoàn này. Ngoài ra, nhiều cuộc đình công đòi tăng lương đã nổ ra tại Trung Quốc, chủ yếu trong các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài. Các dây chuyền lắp ráp xe hơi thuộc hai tập đoàn, Toyota và Honda, cũng đã nhiều lần phải ngừng hoạt động do các cuộc đình công trong các nhà máy sản xuất thiết bị, phụ tùng. Ngày 29 tháng 6, 2010, khoảng 3,000 công nhân nhà máy chế tạo linh kiện điện tử Mitsumi Electric, ở thành phố Thiên Tân, gần Bắc Kinh, bắt đầu đình công đòi tăng lương. Một công nhân của nhà máy cho biết là lương của họ quá thấp, chỉ vào khoảng 220 Mỹ Kim một tháng và họ không được hưởng bất kỳ một loại bảo hiểm nào. Theo thông báo của tập đoàn Mitsumi từ Tokyo, do đình công, tất cả các dây chuyền sản xuất của nhà máy tại Trung Quốc đã phải ngừng hoạt động.
Giới lãnh đạo nước này gọi đây là "những vụ khủng bố đô thị liên quan đến các cá nhân bất mãn". Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã ra lệnh toàn bộ các cơ quan chính phủ ngay lập tức có các biện pháp tránh tái diễn những trường hợp tương tự và đảm bảo ổn định và hài hòa xã hội. Các phương tiện truyền thông đưa tin nhiều biện pháp an ninh khẩn cấp ở mức cao nhất đã được áp dụng. Thủ tướng Ôn Gia Bảo thừa nhận rằng có những lý do sâu xa hơn đằng sau các vụ giết người dã man trên. Ông nhấn mạnh bên cạnh việc thúc đẩy tuần tra và các biện pháp thắt chặt luật pháp khác, các bộ ngành cần phải khắc phục các mâu thuẫn xã hội, giải quyết các xung đột và tiến hành hòa giải từ cấp cơ sở. Người phát ngôn Bộ Công An Trung Quốc cũng cho rằng một loạt vụ tấn công vào các trường tiểu học là triệu chứng của tình trạng bất ổn về kinh tế - xã hội. Theo ông, một số mâu thuẫn không được giải quyết kịp thời đã nổ tung. Các xung đột dân sự đã biến thành các vụ án hình sự với những biện pháp cực đoan nhằm trả đũa xã hội. Tại sao có những mâu thuẫn ở bên trong như vậy? Chuyên gia xã hội học của Bắc Kinh, ông Tang Jun cho biết bọn giết người đã tấn công trẻ em bởi việc này sẽ gây tác động tiêu cực lớn nhất đến xã hội. Bọn chúng không biết rõ về các nạn nhân, vì vậy các vụ tấn công hàng loạt này là cách để thể hiện sự bất mãn của chúng với toàn xã hội. Theo một chuyên gia khác ở Đại học Khoa học và Công nghệ Bắc Kinh, ông Hu Xingdou, các vụ tội phạm dã mãn trên cho thấy sự tuyệt vọng ở một số công dân tầng lớp thấp mà các kiến nghị của họ bị từ chối và họ không được pháp luật bảo vệ. Ông Hu bày tỏ lo ngại rằng khi khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, các phản ứng tương tự có thể trở nên thường xuyên hơn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã ý thức về "quả bom hẹn giờ" này. Trong báo cáo làm việc của Chính phủ lên Quốc hội hồi tháng Ba vừa qua, Thủ tướng Ôn Gia Bảo cam kết đảm bảo mọi người dân Trung Quốc có thể sống đàng hoàng. Về phần mình, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh trong một bài phát biểu nhân ngày Quốc tế lao động 1/5 rằng công nhân sẽ được xếp vào hàng công việc được đánh giá cao. Một số biện pháp cũng đã được đưa ra để hỗ trợ những người Trung Quốc gặp khó khăn. Ví dụ, lương cơ bản của hơn 10 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương đã được nâng lên 10% từ đầu năm nay. Mức lương tháng tối thiểu ở Thượng Hải, Quảng đông và Triết Giang đã đạt mục tiêu 1,000 NDT (146.4 USD). Trong khi đó, các kênh để những người bị thiệt thòi bày tỏ bất bình ngày càng thu hẹp. Chính quyền cơ sở đã có các biện pháp siết chặt khiến các nạn nhân của bất công xã hội không có cơ hội khiếu kiện lên cấp cao hơn. Giới chức Bắc Kinh đổ lỗi vụ việc trên cho cách quản lý không thỏa đáng của lãnh đạo công ty. Nhưng trên thực tế, nỗi thất vọng của các công nhân liên quan đến các vấn đề như điều kiện làm việc quá khắc nghiệt và việc cấm thành lập hiệp hội công đoàn không chính thức trên cả nước.

3.Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc từ lâu đã khiến các nước khác thèm muốn, nhưng việc mở rộng phát triển công nghiệp trong 3 thập kỷ qua cũng đang dần biến họ thành một trong những nước “độc hại” nhất thế giới. Vô số thành phố đang bị bao phủ bởi khói bụi trong khi hàng trăm triệu người không có cơ hội tiếp cận với nước sạch sinh hoạt.
Sự phát triển ồ ạt của các ngành công nghiệp đã gây ra sự tàn phá môi trường ở phạm vi rộng lớn. Trong 30 thành phố ô nhiễm nhất thế giới thì 20 là ở Trung Quốc và Trung Quốc hiện nay đã vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nước xả khí thải cacbon lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, với 70% hệ thống sông hồ bị ô nhiễm và hơn 300 triệu dân không có nước sạch để uống, sức khỏe của nhiều người dân, đặc biệt là dân nghèo, đã bị ảnh hưởng nặng nề. Tình trạng này đã gây ra làn sóng khiếu nại và phản đối mạnh mẽ trong quần chúng, có khả năng làm mất ổn định xã hội nếu nạn ô nhiễm môi trường không được khắc phục tốt.
Theo báo cáo năm 2007 của Ngân hàng thế giới, mỗi năm có 750,000 người Trung Quốc chết sớm do không khí và nước bị ô nhiễm. Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc vẫn lưỡng lự không muốn công bố, do lo ngại có thể gây bất ổn xã hội.
Ngoài ra, Trung Quốc hiện nay cũng là một trong những trở lực lớn trong quá trình giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường. Trước nỗ lực chống biến đổi khí hậu toàn cầu, việc Trung Quốc từ chối các cam kết về mức độ cắt giảm khí thải CO2 cũng như sự giám sát của quốc tế trong quá trình thực hiện cắt giảm, đã góp phần ngăn cản các nước đi đến một hiệp định chung có tính pháp lý ràng buộc tại hội nghị về biến đổi khí hậu ở Copenhagen vừa qua.

4.CHẾ ÐỘ MỘT CON VÀ LÃO HÓA DÂN SỐ:

Vì sự phát triển kinh tế và cân bằng xã hội, Trung Quốc áp dụng chế độ 1 con một cách khắc nghiệt. 35.9% dân số Trung Hoa chịu ảnh hưởng của quyết định này. Vì truyền thống trọng nam khinh nữ, nhiều gia đình đã quyết định phá thai khi biết bào thai là con gái. Điều này đã tạo ra một sự bất quân bình trong xã hội Trung Hoa: một xã hội thiếu đàn bà. Trong năm 2000 đã có 250 triệu trường hợp phá thai. Chính sách này vẫn được tiếp tục áp dụng để giảm áp lực của gia tăng dân số nhưng hệ quả là dân số lao động mỗi năm giảm 10 triệu từ năm 2005, và dân số trẻ từ 20-24 tuổi sẽ giảm 25% trong thập niên tới. Dù là quốc gia đông dân nhất thế giới nhưng Trung Quốc vẫn có thể sẽ phải đối mặt với thiếu hụt nguồn lao động do ảnh hưởng của chính sách một con vẫn đang được áp dụng.
Trong khi lực lượng lao động trẻ giảm xuống, số người cao niên tăng theo nhịp điệu lũy tiến: năm 2008, Trung Quốc có 169 triệu người trên 60 tuổi (13% dân số), dự kiến sẽ tăng lên 250 triệu trong 10 năm nữa và đến năm 2050, cứ 3 người dân thì có 1 người già. Vấn đề càng nghiêm trọng hơn là số người già sống đến 80 tuổi càng ngày càng đông, cứ 5 người già thì có 1 người già 80 tuổi vào năm 2050. Việc săn sóc và vấn đề an sinh người già là vấn đề trọng đại cho quốc gia và gia đình.
Ngoài việc gồng gánh gia đình, người trẻ tuổi trong tuổi lao động hôm nay còn phải đóng góp quỹ hưu bỗng càng lúc càng nặng để nuôi người già càng lúc càng tăng. Năm 1980, 13 người làm việc để nuôi 1 người già, tỷ lệ này giảm xuống còn 3/1 năm 2003, và đến năm 2050, cứ 2 người làm việc để nuôi 1 người già. Đó là một viễn ảnh kinh tế đen tối mà chính phủ Trung Quốc phải đối diện.
Trung Quốc hiện nay có 41,000 nhà dưỡng lão, như vậy cứ 1,000 người chỉ có thể đáp ứng được 11 chỗ nghĩ dưỡng trong khi đó tỷ lệ này ở các quốc gia phát triển là từ 50 đến 70 chỗ nghỉ.

5.NHÂN QUYỀN:

Sau vụ đàn áp Thiên An Môn năm 1989, vấn đề nhân quyền tại Trung Hoa được đưa lên trang đầu. Báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ luôn luôn nêu lên những vi phạm nhân quyền tại Trung Hoa. Đây là đề tài đầu tiên trong các buổi thăm viếng hay gặp gỡ giữa quan chức hai nước. Các tổ chức quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, Chinese Human Rights Defenders (CHRD), China Human Rights Lawyers Concern Group (CHRWCG),  China Human Rights Forum và China Aid, Freedom House luôn luôn theo dõi tình trạng nhân quyền tại Trung Hoa và có những báo cáo định kỳ về vấn đề này. Vấn đề nhân quyền tại Trung Hoa bao gồm các lãnh vực:

Án tử hình: Trong năm 2008 đã có 2,390 án tử hình được thi hành mà 72% (1,721 vụ) là từ Trung Quốc. Điều đáng ngạc nhiên là 4 quốc gia lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Indonesia vẫn duy trì án tử hình. Tại Âu Châu, nếu hiệp ước Lisbon được phê chuẩn thì án tử hình sẽ được hủy bỏ.
Hủy diệt văn hóa tại Tây Tạng: Sau khi chiếm đóng Tây Tạng, Trung Quốc đã cố tình đồng hóa, hủy diệt nền văn minh bàng bạc chất Phật Giáo của quốc gia cổ kính này. Hàng ngàn ngôi chùa bị phá hủy, hàng vạn, vạn tăng lữ bị thủ tiêu. Để đồng hóa dân Tây Tạng, Trung Quốc đã ồ ạt di dân vào sinh sống ở Tây Tạng. Khoảng 7,5 triệu người Tầu đã được đưa sang lập nghiệp ở Tây Tạng, vượt xa dân số Tây Tạng. Người Tây Tạng trở thành dân thiểu số ngay trên chính quê hương của họ. Ngôn ngữ chính thức ở Tây Tạng bây giờ là tiếng Trung Hoa, ngôn ngữ Tây Tạng chỉ là ngôn ngữ địa phương.
Tự do báo chí và quyền phát biểu của người dân: Tại Trung Quốc không có báo của tư nhân. Tất cả báo chí và Internet đều bị chính phủ kiểm soát. Tất cả ý kiến của mọi tầng lớp dân chúng, nếu không theo đường lối của chính phủ, đều bị  ghép vào tội vi phạm an ninh quốc gia và bị cầm tù dài hạn ngay lập tức. Sự kiện ông Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), một nhà tranh đấu cho Nhân Quyền Trung Quốc, vừa được trao giải Nobel Hòa Bình năm 2010 trong lúc đang bị án tù 11 năm kể từ năm 2009 vì tội danh âm mưu lật đổ nhà nước là một cái tát vào chế độ độc tài tại Trung Quốc. Trong bản đăng tải vừa mới đưa trên mạng Internet, một nhóm 23 nhân sĩ, trí thức và cựu quan chức cao cấp, gồm cả thư ký cũ của cố lãnh tụ Mao Trạch Đông, cho rằng các quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận có trong Hiến pháp 1982 của Trung Quốc liên tục bị hạn chế bởi hệ thống luật và cả các lệ của Đảng. Lá thư đề nghị Quốc Hội bỏ chế độ kiểm duyệt "lỗi thời" ở Trung Quốc.
Tự do tôn giáo: Theo báo cáo, 67.4% dân Trung Hoa theo 5 tôn giáo chính: Phật Giáo, Lão Giáo, Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo và Tin Lành; tuy nhiên các tôn giáo này phải ghi danh và chịu sự kiểm soát của Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo của nhà nước. Các tôn giáo của người hồi giáo Tân Cương, phật giáo Tây Tạng, công giáo không Quốc Doanh, Pháp Luân Công đều bị đàn áp. Các đảng viên Cộng Sản chính thức không được theo một tôn giáo nào. Các linh mục Công Giáo phải được nhà nước bổ nhiệm. Vatican không có quyền bổ nhiệm các linh mục.

Chính phủ Trung Hoa cho rằng vấn đề nhân quyền phải bao gồm sự tăng trưởng lợi tức mỗi đầu người và bảo hiểm sức khỏe của dân chúng.

QUÂN SỰ

Sự canh tân hóa và phát triển quân lực Trung Quốc nhất là về quân chủng Hải Quân sẽ đưa Trung Quốc trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới về quân sự trong thập niên sắp đến. Trung Quốc đã tổ chức lễ Quốc Khánh lần thứ 60 vào ngày 1 tháng  10 vừa qua một quy mô chưa từng có để kỷ niệm ngày khai sinh ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Để chứng tỏ sức mạnh quân sự đang tăng, quân đội Trung Quốc lần đầu tiên đã phô diễn trước công chúng nhiều loại vũ khí mới trong đó có cả những tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, mà theo các chuyên gia, có thể bắn tới lãnh thổ Hoa Kỳ. Báo chí chính thức của Trung Quốc tự hào khoe rằng phần lớn các vũ khí được giới thiệu hôm nay là được chế tạo ngay trong nước. Đây là một bước nhảy vọt so với thời kỳ mà Trung Quốc phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào các vũ khí tối tân của Liên Xô. Điều này cho thấy là ngành công nghiệp vũ khí của Trung Quốc đang được phát triển mạnh mẽ nhưng theo các chuyên gia quân sự, hiện chưa rõ là sức mạnh quân sự của Trung Quốc đến mức nào. Ông Dennis Blasko, nguyên là tùy viên quân sự của Mỹ ở Bắc Kinh, lưu ý rằng, phần lớn các vũ khí được giới  thiệu hôm nay chỉ là những loại vũ khí đã được nhìn thấy tại cuộc diễu binh mừng Quốc khánh thứ  50 vào năm 1999, được nâng cấp hoặc sửa đổi. Trung Quốc đang đối diện với những khó khăn căn bản:

1.CHẠY ĐUA VŨ TRANG:

Sự tăng cường lực lượng quân sự của Trung Quốc đã khiến các cường quốc trong vùng như Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, Úc Đại Lợi cũng phải có những biện pháp tương tự. Theo các chuyên gia, mặc dù đẩy nhanh hiện đại hóa quân sự, nhưng Trung Quốc hãy còn lâu mới bắt kịp Hoa Kỳ. Ngay cả phần lớn các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ nay có lực lượng hải-không quân được trang bị tốt hơn và có khả năng tác chiến cao hơn. Cả 3 nước này đều là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Trung Quốc đang lao đầu vào một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém mà xung quanh hầu như không có một đồng minh.

2.CĂN CỨ QUÂN SỰ Ở HẢI NGOẠI:

Hoa Kỳ có rất nhiều căn cứ  hải-không quân ở hải ngoại cũng như trong vùng Thái Bình Dương: các căn cứ hải-không quân tại Anh, Gaeta tại Ý (Đệ Lục Hạm Đội), Manama tại Bahrain (Đệ Ngũ Hạm Đội), Yokosuka, Sasebo, Atsugi tại Nhật Bản (Đệ Thất Hạm Đội), các căn cứ tại Hạ Uy Di, Guam tại Thái Bình Dương, căn cứ Changi ở Tân Gia Ba, căn cứ Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, quyền cập bến tại Đại Hàn, Đài Loan. Đó là chưa kể 2 vịnh Subic của Phi Luật Tân và Cam Ranh của Việt Nam mà Hoa Kỳ cũng đang thương thuyết để có quyền cập bến. Trái lại, Trung Quốc chưa có một căn cứ nào ở hải ngoại. Trung Quốc đang cố gắng một chiến lược gọi là Chuổi ngọc trai (String of Pearls) gồm có các cứ điểm của các quốc gia đồng minh như Miến Điện, Sri Lanka, Maldives, Seychelles và Mauritius ở phía Nam, chạy lên Pakistan ở phía Tây nhất là cảng nước sâu ở Hambantota, Sri Lanka. Tuy nhiên, đây là các quốc gia nghèo và sự liên hệ với TQ cũng không có gì vững chắc cả. Miến Điện được xem như là đồng minh thân cận nhất nhưng sự liên hệ Trung-Miến được ví như là một cuộc hôn nhân không có tình yêu, có thể đỗ vở bất cứ lúc nào. Pakistan có thể xem như một quốc gia đang có nội chiến. Quyết định thay đổi chính sách gần đây của Hoa Kỳ đối với Miến Điện có thể kéo nước này ra khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Trung Quốc có thể dùng số tiền dự trữ khổng lồ của mình để viện trợ cho các nước này đổi lấy quyền xây dựng các căn cứ hải quân hay quyền cập bến nhưng hiện nay chưa có dữ liệu rỏ ràng về sự tiến triển. Trung Quốc có thể đóng 1, 2 hàng không mẫu hạm trong những năm sắp đến nhưng không có được căn cứ tại hải ngoại thì Trung Quốc sẽ không vượt ra khỏi 2 tam giác chiến lược chế ngự cửa ngõ ra Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

3.VÒNG VÂY VŨ KHÍ HẠT NHÂN:

Báo Nam Phương tại Quảng Đông trích lời tướng Bành Quang Khiêm của quân đội Trung Quốc cho rằng “Vành đai vũ khí hạt nhân lớn nhất và dày đặc nhất thế giới đang bao vây quanh Trung Quốc với con số ước tính khoảng 22,530 đầu đạn. Nếu lời tuyên bố trên đây là đúng thì tất cả các nước lân bang, xa cũng như gần, đều chĩa mũi dùi vào Trung Quốc. Trung Quốc đã tự tạo cho mình một thế tứ bề thọ địch.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

en.wikipedia.org/.../Human_rights_in_the_People's_Republic_of_China

2014

1. ITN-120214-CHINA-3-Nhung van de cua Trung Quoc.doc: Các bài viết về những khó khăn của Trung Quốc.

2013

1.  ITN-062913-CHINA-3-Tinh hinh Noi Mong-Tan Cuong-Tay Tang.doc: Các bản tin về biến cố gần đây tại Nội Mông-Tân Cương và Tây Tạng.
2.  ITN-081313-CHINA-3-Nhu cau nhien lieu cua TQ: Các bản tin về nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc.
3.  ITN-081513-CHINA-3-The gioi nhin ve Trung Quoc.doc: Các bài viết về liên hệ giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài.
4. ITN-091113-CHINA-3-Nhung van de cua Trung Quoc.doc: Các bài viết về những khó khăn của Trung Quốc.
5. ITN-092213-CHINA-3-Vu Bac Hy Lai.doc: Các bài viết về những biến cố dẫn đến sự mất chức của ông Bạc Hy Lai.
6.  ITN-121913-CHINA-3-Kho khan kinh te-tai chanh cua TQ.doc: Các bài viết về những khó khăn kinh tế & tài chánh của Trung Quốc.

DƯ LUẬN CÁC NƯỚC NHÌN VỀ TRUNG QUỐC – HOA KỲ

Một cuộc điều tra dư luận tại 39 quốc gia do Viện Pew Research Center công bố ngày 18/07/2013 tại Hoa Kỳ với kết quả cuộc khảo sát công bố hôm nay cho thấy dưới con mắt của thế giới, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì một hình ảnh đẹp hơn, so với Trung Quốc. Tỷ lệ những người có ấn tượng tốt về Hoa Kỳ là 63%, so với 50% đối với Trung Quốc.

Tỷ lệ này thay đổi tùy theo khu vực. Cuộc khảo sát cho thấy hình ảnh về Trung Quốc rất xấu tại những nước láng giềng gần nhất. Trong khi hình ảnh về Hoa Kỳ tiêu cực nhất là tại các quốc gia có đa số là người Hồi giáo. Tuy nhiên, ngay cả tại các nước có thái độ  thù nghịch nhất với Hoa Kỳ, cũng nói họ tin là Hoa Kỳ cho phép các công dân của họ nhiều quyền tự do cá nhân hơn. Trung bình 70% người được khảo sát nói với Pew rằng Hoa Kỳ tôn trọng các quyền cá nhân, trong khi chỉ có 36% nói Trung Quốc tôn trọng các quyền này. Tuy nhiên, ở những nước khác nhau cũng có sự khác biệt lớn trong tình cảm đối với Mỹ và Trung Quốc, theo tường thuật của AFP. Nhật Bản là nước mà số người thân Mỹ tăng nhiều nhất với tỷ lệ là 69%. Trong khi đó, chỉ có 5% người dân nước này có tình cảm tích cực đối với Trung Quốc. Đây là quốc gia có cái nhìn thiếu thiện cảm nhất về Trung Quốc trong số các quốc gia được khảo sát. Hầu hết các nước châu Á-Thái Bình Dương đều ủng hộ Mỹ. Còn ở châu Âu, hình ảnh của Bắc Kinh đã xấu đi rất nhiều trong vòng hai năm qua, với tỷ lệ người ủng hộ giảm 11% ở Anh và 9% ở Pháp.

Theo cuộc thăm dò nói trên thì 96% người Nhật và 91% người Hàn Quốc coi sức mạnh quân sự ngày càng tăng cao của Trung Quốc là “một điều xấu”. Ở những nước mà đa số người dân không ưa Mỹ thì hình ảnh Trung Quốc cũng đi xuống. Tỷ lệ ủng hộ Trung Quốc ở Ai Cập đã giảm 12 điểm xuống 45% mặc dù tỷ lệ này vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ ủng hộ Mỹ là 16%. Tuy nhiên, ở phía bên kia thì có đến 81% người dân Pakistan yêu mến Trung Quốc trong khi chỉ có 11% người dân nước này thích Mỹ. Hy Lạp là quốc gia duy nhất trong Liên minh Âu châu có đa số người dân thiện cảm với Trung Quốc trong khi chưa tới phân nửa người dân nước này có cái nhìn tích cực về Hoa Kỳ. Trung Quốc là nước ghét Mỹ nhất nếu không tính các nước Hồi giáo với chỉ 40% người dân nước này có cái nhìn thiện cảm về Mỹ. Ở Argentina, tỷ lệ này cao hơn một chút ở mức 41%. Đây là trường hợp đặc biệt ở Mỹ Latin nơi mà hầu hết các nước đều thích Mỹ.

Trong hơn phân nửa 39 quốc gia được khảo sát, Hoa Kỳ vẫn được công nhận một cách chính xác là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nhưng đa số người tại 18 nước nói rằng Trung Quốc rốt cuộc sẽ qua mặt Hoa Kỳ. Người dân ở tất cả các nước Tây Âu ngoại trừ Ý, nơi Mỹ được đặt biệt ủng hộ, đều tin rằng Trung Quốc đã đứng đầu thế giới hoặc đã qua mặt Mỹ để trở thành 'siêu cường số một thế giới'.

IV.   CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ: THẾ CÂN BẰNG TRONG VÙNG ĐÔNG NAM Á - VỊ THẾ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM.

Năm 2009, Trung Quốc bắt đầu chọn một thái độ mạnh bạo và hung hăng hơn trong vùng Biển Đông vừa để chứng tỏ sức mạnh của mình cũng như thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ. Trong chuyến đi thăm Trung Quốc của đô đốc Mỹ Timothy Keating đầu năm 2009, phía Trung Quốc đã trực tiếp nêu với phía Mỹ chia đôi Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ quản lý phần Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ từ Hawaii về phía Đông. Keating cho biết đã trả lờ: “No, thanks!". Tháng 7-2010, hãng tin Nhật Bản Kyodo xác nhận Trung Quốc đã chính thức thông báo với Hoa Kỳ rằng Biển Đông đã trở thành một trong các "quan tâm chủ chốt" của nước này, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Sự rút lui một phần tại Iraq để tập trung hoạt động tại Afghanistan đã giúp Hoa Kỳ có thì giờ giải quyết các điểm nóng trên thế giới. Chính phủ Obama bắt đầu có những định hướng chiến lược mới, đang tỏ ra vừa cứng rắn vừa thận trọng trong vấn đề liên hệ với Trung Quốc. Cuộc điều trần mới đây tại Thượng Viện Hoa Kỳ và chuyến viếng thăm của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Thái Lan đã cho thấy sự chuyển hướng trong chính sách ngoại giao và đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ trong vùng. Thượng nghị sỹ Mỹ Jim Webb, Chủ tịch tiểu ban Đông Á thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, trong chuyến thăm viếng Việt Nam ngày 19 tháng 8 năm 2009 đã nhấn mạnh những điều sau:

1)Mỹ phải duy trì được mối liên hệ lịch sử đối với các nước ở Đông Nam Á để duy trì sự cân bằng khi mà có những quốc gia lớn mạnh khác đang nổi lên.
2)Đã có sự tranh cãi chủ quyền trên Biển Đông. Cần có sự giải quyết công bằng và Washington cần tham gia.
3)Việc bảo vệ chủ quyền của khu vực này, không nhất thiết bằng biện pháp quân sự, mà cần thể hiện bằng ngoại giao, và Mỹ cần sẵn sàng là lực lượng cân bằng đối với Trung Quốc trong khu vực.

Tại Diễn Ðàn An Ninh Châu Á Thái Bình Dương ở Singapore ngày 5 tháng 6 năm 2010 trước gần 30 nước, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates và kế đến là đô đốc Robert Willard, tư lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại vùng Thái Bình Dương, nhân chuyến ghé thăm Việt Nam sau đó đã  nhấn  mạnh đến quyền tự do lưu thông và tự do phát triển tại vùng Biển Đông. Tại “Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN” ở Hà Nội ngày 23-7-2010, Ngoại Trưởng Hillary R. Clinton chính thức tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông và hậu thuẫn cho tiến trình giải quyết bằng ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp lãnh thổ tại Biển Ðông, và chống việc dùng võ lực hay đe dọa võ lực của bất cứ nước nào”. Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN tại New York ngày 24-9-2010 khẳng định tầm quan trọng của ổn định và hòa bình khu vực, an ninh hàng hải, không cản trở thương mại và tự do hàng hải theo những quy định liên quan được nhất trí của luật pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và những điều luật hàng hải quốc tế khác, đồng thời giải quyết hoà bình các tranh chấp.




Những điều tuyên bố trên cọng với sự nhận xét của 2 chuyên viên hàng đầu của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học quốc phòng, giáo sư  Trương Triệu Trung và Vương Bảo Phó trong thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ có ý định tạo ra 2 tam giác chiến lược: Trong khu vực Đông Nam Á, vịnh Subic của Phi Luật Tân, vịnh Cam Ranh của Việt Nam và eo biển Malacca đi qua Tân Gia Ba là tam giác chiến lược đầu tiên, cùng với một tam giác chiến lược khác ở vùng Đông Bắc Á bao gồm Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hai tam giác chiến lược này chế ngự cửa ngõ ra Thái Bình Dương và là địa bàng quan tâm chủ chốt của Hoa Kỳ. Ở vùng Đông Bắc Á, Hoa Kỳ đã có căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản cũng như quyền cập bến ở Đại Hàn và Đài Loan. Hoa Kỳ cần có một lực lượng hải-không quân thường xuyên tuần tiễu vùng Biển Đông. Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ có thể hoạt động một mình nếu có đủ lực lượng; bằng không, một Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu Biển Đông chung với Việt Nam và các quốc gia ASEAN là  điều có thể xảy ra. Vấn đề phải giải quyết là căn cứ cho lực lượng đặc nhiệm này. Hai cảng hải quân của Hoa Kỳ ở Guam và Yokosuka thì quá xa. Hải cảng Changi của Singapore thì tương đối nhỏ. Còn lại là 2 cảng Subic của Phi Luật Tân và cảng Cam Ranh của Việt Nam. Hải quân Hoa Kỳ đã giao lại lại cảng Subic cho chính phủ Phi từ lâu nhưng cũng có thể tái thương thuyết để sử dụng một phần của hải cảng này. Vấn đề còn lại là tương lai của hải cảng Cam Ranh. So với mọi căn cứ hải quân của Trung Quốc, vịnh Cam Ranh vẫn có nhiều khả năng hơn để điều quân ra bất kỳ đảo nào ở Biển Đông. Mọi người đều hiểu rằng  chính quyền Việt Nam rất lo ngại việc để Hoa Kỳ vào cảng Cam Ranh có thể bị Trung Quốc xem là cớ gây hấn và ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giữa 2 nước. Điều mâu thuẫn là trong khi Trung Quốc đang cấp tốc phát triển căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam thì lại ép buộc không cho Việt Nam phát triển hải cảng của mình. Chuyên gia kỳ cựu người Úc chuyên về Việt Nam, Carlyle Thayer, cũng nói Hoa Kỳ quan tâm “địa điểm hơn là căn cứ”, nghĩa là Hoa Kỳ sẽ không thuê Cam Ranh, nhưng muốn được quyền tiếp cận các cảng của Việt Nam khi cần thiết. Quyền tiếp cận này không những áp dụng cho hải quân Hoa Kỳ mà còn cho hải quân các nước khác trong vùng. Nhắc lại chuyện căn cứ Mỹ ở Nam Hàn đã từng gây chia rẽ dư luận xứ Hàn, ông Thayer nói ông “hồ nghi việc Mỹ đang tìm cách có căn cứ ở Cam Ranh, nhưng quyền tiếp cận lại là một vấn đề khác”. Chính quyền Việt Nam rất thực dụng và họ cũng hiểu rằng Hoa Kỳ cũng như các đồng minh trong vùng cũng như vậy. Cân bằng giữa các thế lực quốc tế trong nhiều khía cạnh chỉ là ngôn từ ngoại giao. Trung Quốc luôn luôn tỏ thái độ hiếu chiến và sẵn sàng dùng sức mạnh của mình. Các đồng minh sẽ không sẵn lòng giúp đỡ Việt Nam nếu Việt Nam không đóng góp phần mình. Hải cảng Ba Ngòi nằm trong vịnh Cam Ranh cùng với quân cảng Cam Ranh cần được phát triển đúng mức để đáp ứng nhu cầu quân sự cũng như phát triển cho Việt Nam. Quyết định của Việt Nam ngày 30-10-2010 vừa qua tuyên bố mở cửa cho tất cả tàu quân sự của các nước được vào Vịnh Cam Ranh là một chiến lược thông minh nhằm đối phó với những chống đối từ Trung Quốc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2013

1. ITN-063013-QT-Tinh hinh Bien Dong 2013.doc: Tổng kết tình hình Biển Hoa Đông và Biển Đông sáu tháng đầu 2013.

LỊCH TRÌNH TU CHỈNH

1) 15-8-2009: Hoàn tất bài viết.
2) 9-1-2012: Bắt đầu tu chỉnh để thêm vào những biến cố xảy ra trong năm 2011 & 2012.
3) 18-7-2013: Tu chỉnh phần Dư luận các nước nhìn về Trung Quốc – Hoa Kỳ.



Nguyễn Mạnh Trí
E-Mail: prototri@yahoo.com
www.tranhchapbiendong.com
Tu chỉnh: 2 tháng 12 năm 2013



LỜI NGƯỜI PHỤ TRÁCH:

Vì bài viết về “Trung Quốc” quá dài, chúng tôi quyết định chia bài nghiên cứu về “Trung Quốc” thành 2 phần:

1.Phần “Biển Ðông: Trung Quốc I” gồm Chương I (Tham vọng bành trướng của Trung Quốc) và Chương II (Sức mạnh của Trung Quốc).

2.Phần “Biển Ðông: Trung Quốc II” gồm Chương III (Thế yếu của Trung Quốc) và Chương IV (Chiến lược của Hoa Kỳ và Việt Nam).