Tranh Chấp Biển Đông
Chủ Trương & Kỹ Thuật: Nguyễn Mạnh Trí

Chào Mừng Quý Khách

TRUNG QUỐC

Kể từ lúc lập quốc, Trung Quốc với dân số đông nhất thế giới là một quốc gia với nhiều thăng trầm: lúc thì bị chia năm xẻ bảy vì tranh giành quyền lực thời phong kiến, liên quân 8 nước Tây Phương tiến vào Bắc Kinh năm 1900, bị Nhật Bản xâm chiếm trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, nội chiến Quốc-Cộng cho đến 1949 nhưng mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì nước này lại không để cho các dân tộc chung quanh được bình an.

I.THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG QUỐC

Nhà cầm quyền Trung Hoa, dù là những vị hoàng đế thời phong kiến hay đảng Cộng Sản hiện nay vẫn luôn luôn nuôi mộng bành trướng lãnh thổ, xâm lược các nước lân bang. Từ thời nhà Hán qua các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Thực ra chính các vị hoàng đế hay tổng bí thư, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; dù rằng phong kiến hay Cộng Sản; đều chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Đế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 -1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu. Vì luôn luôn tự tôn rằng Hán tộc là cái rốn của vũ trụ, có thiên mệnh làm bá chủ thế giới nên từ ngàn xưa, người Tầu đã không ngớt xâm lấn khắp nơi khi có cơ hội. Chính sách đồng hóa thâm độc của Trung Quốc vẫn không thay đổi. Từ ngàn năm nay: đó là di dân ào ạt vào các nước chiếm được, hạn chế sinh đẻ áp đặt lên người bản xứ, gieo rắc chết chóc lầm than, hủy diệt văn hóa, văn tự chữ nghĩa như họ đang thực hiện ở Tây Tạng ... Người Tầu tự coi họ là văn minh, các sắc dân khác được họ gọi là Rợ, Man Di v.v .. Các vua Tầu như các Khang Hy, Càn Long đời nhà Thanh đã đem lãnh thổ Mãn Châu sáp nhập vào nước Tầu. Họ chiếm thêm Ngoại Mông và Hồi Cương để lập thêm các tỉnh mới như Thanh Hải, Tây Khang, Tây Hạ, Sáp Cát Nhĩ, Liêu Ninh, Thẩm Dương và Hắc  Long Giang.


Sau khi đuổi quân Quân Dân Đảng của tướng Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan và thống nhất đất nước năm 1949 dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản Trung Hoa, họ đã đổi quốc kỳ: Cũng là nền đỏ sao vàng tượng trương cho phong trào Cộng Sản quốc tế nhưng đã để lộ ra bản chất đế quốc với ngôi sao lớn nhất tượng trưng cho dân tộc Hán, chung quanh là 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho các nhóm Mãn, Mông, Hồi, Tạng.

1.TRANH CHẤP, XÂM CHIẾM VÀ CHIẾN TRANH VỚI CÁC LÂN BANG.

Năm 1950, hơn 50 sư đoàn quân đội Trung Cộng - dưới sự chỉ huy của Lâm Bưu và Bành Đức Hoài - vượt sông Áp Lục, tiến như vũ bão xâm lăng Triều Tiên, đẩy lùi quân đội Nam Hàn và Đồng Minh xuống mãi tận cực Nam của bán đảo Triều Tiên. Chiến tranh Cao Ly chấm dứt tháng 7 năm 1953. Hậu quả là Triều Tiên bị chia đôi ở vỹ tuyến thứ 38. Ngày 15 tháng 10 năm 1951, Trung Cộng kéo quân vào chiếm Tây Tạng, chiếm đóng xứ này cho tới ngày nay. Năm 1962, Trung Quốc gây chiến với Ấn Độ, tiến sâu vào lãnh thổ nước này 20 km rồi rút ra. Các đại cường Mỹ, Nga Sô đã phải can thiệp để chấm dứt cuộc chiến. Kết quả là Ấn Độ đã phải nhường Trung Quốc 1 dải đất rộng 3,300 km2 ở vùng Aksai Chin, tức là vùng biên giới Hy Mã Lạp Sơn và Trung Quốc. Trung Quốc và Nga Sô có chung chiều dài biên giới khoảng 4,300 km. Năm 1969, Trung Quốc đã xua quân chiếm vùng sông Amur của Nga Sô. Chiến tranh đẫm máu đã xẩy ra giữa 2 nước “xã hội chủ nghĩa anh em”. Nga Sô đã phải dùng đến hỏa tiễn để tiêu diệt quân Trung Quốc. Năm 1977, Trung Quốc và Nga Sô ký hiệp định về biên giới. Mặc dù đã ký hiệp định với Liên Sô, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình vẫn khẳng định rằng vùng đất Vladivostok và Khabarovsk vẫn là của Trung Hoa. Trung Quốc hiện đang tranh chấp với Nhật Bản về 2 hòn đảo Yonaguni và Senkaku (Điếu Ngư Đài). Đài Loan, dù rằng không ở tư thế một quốc gia độc lập, vẫn là một thực thể riêng biệt với một nền kinh tế mạnh mẽ dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ.

2.XÂM LƯỢC VIỆT NAM

Trong các nước lân bang của Trung Quốc, Việt Nam là nước chịu nhiều hệ lụy nhất. Trong hơn 2,000 năm lập quốc, người Việt Nam đã bị 4 lần Bắc thuộc và đánh nhau với Trung Quốc bảy lần kể cả ba lần diễn ra khi Mông Cổ làm chủ Trung Hoa. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình của phương Bắc:

Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Công Nguyên - 39): nhà Triệu, nhà Hán.
Bắc thuộc lần thứ hai (43-541): nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương.
Bắc thuộc lần thứ ba (602-905): Năm 602, nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân 27 dinh sang đánh nước Vạn Xuân. Vua đời thứ  3 của Vạn Xuân là Lý Phật Tử sợ giặc và đầu hàng, bị bắt sang Trung Quốc. Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3 mà trước hết là thuộc Tùy. Thời đó, Việt Nam bị xếp làm một châu của Tùy, gọi là châu Giao. Trên đường đánh Lâm Ấp quay về, Lưu Phương mắc bệnh chết. Sau Lưu Phương, đến Khâu Hòa được cử làm đại tổng quản. Năm 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy, lập ra nước Đại Đường. Khâu Hòa xin thần phục nhà Đường năm 622. Việt Nam thành thuộc địa của Đại Đường. Thời gian Bắc thuộc lần 3 của Việt Nam kéo dài hơn 300 năm.
•        Năm 938, nhà Nam Hán lại kéo quân sang đánh nước ta. Biết được quân giặc sẽ dùng sông Bạch Ðằng trên đường tiến quân, Ngô Quyền cho quân lính đóng cọc nhọn dọc theo sông và dụ quân địch khi thủy triều lên. Khi thủy triều xuống, thủy quân Việt Nam dùng chiến thuyền đáy bằng phản công mãnh liệt làm hàng trăm chiến thuyền địch bị chìm khi vướng vào cọc và bị quân Nam phá hủy. Quân Nam Hán bị thiệt hại nặng phải rút lui. Ðô Ðốc Lưu Hoàng Thao, con của vua Nam Hán, bị chết chìm trong trận này.
Năm 981, nhà Tống đánh Lê Hoàn, áp đặt lệ thuộc và ép buộc thường xuyên triều cống.
Trong các năm 1075-1076, nhà Tống đã 2 lần đem quân xâm chiếm Việt Nam để giải tỏa căng thẳng nội bộ do Vương An Thạch cải cách. Cả 2 lần đều bị quân Đại Việt do tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh tan phải rút quân về nước. Khi rút quân, quân Tống đã tranh thủ chiếm đoạt luôn châu Quảng Nguyên (Lạng Sơn và Cao Bằng ngày nay). Năm 1084, trải nhiều lần ngoại giao, các vùng chiếm đóng đều được trả lại, địa giới tái phân định rõ ràng.
Vào thế kỷ thứ 13, lãnh thổ của đế quốc Mông Cổ (triều Nguyên), theo chiều ngang, kéo dài từ  Triều Tiên đến tận Hungary, Tehran, Damascus; chiều dọc từ Bắc Á xuống tới cả biên giới Ấn Độ, Miến Điện. Trong cơn lốc chinh phục của họ, chỉ có Thái Lan thoát khỏi nạn giao tranh nhờ sách lược cầu hòa, Nhật Bản may mắn nhờ một trận bão biển làm thiệt hại đoàn tàu của Mông Cổ và Đại Việt nhờ khả năng lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mà giữ được bờ cõi. Mông Cổ không xâm chiếm được Ấn Độ, họ chỉ tiến được đến biên giới miền bắc Ấn ngày nay và bị chặn lại. Họ cũng chỉ vào được miền bắc Miến Điện trong một thời gian ngắn rồi phải rút lui. Trong 3 lần xâm lăng Việt Nam (lần thứ nhất vào đầu năm 1258 với 3 vạn quân, lần thứ 2 vào đầu năm 1285 với 30 vạn quân và lần thứ 3 vào đầu năm 1288 với 30 vạn quân), quân Mông Cổ tiến như vũ bão vào kinh đô Thăng Long, sau đó vì thiếu hụt lương thực và không hợp thủy thổ đã bị quân Đại Việt phản công tại các trận Hàm Tử, Chương Dương, Vạn Kiếp, Tây Kết, Vân Đồn, sông Bạch Đằng. Tướng Nguyên Thoát Hoan phải chun vào ống đồng thoát thân về nước.
Bắc thuộc lần thứ 4, còn gọi là thời thuộc Minh (1407 - 1427): Bắt đầu từ năm 1407 khi nhà Minh đem quân qua xâm chiếm Việt Nam, đánh bại nhà Hồ và chấm dứt năm 1427 khi Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thời kỳ thuộc Minh kéo dài 20 năm.
Năm 1788, 20 vạn quân Thanh do tướng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tiến vào Thăng Long dưới chiêu bài “phò Lê”. Ngày 25 tháng 10 một năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ làm lễ tế cáo Trời Đất tại núi Bân Sơn (Thuận Hóa) lên ngôi Hoàng Đế, đặt hiệu là Quang Trung rồi thống lĩnh thủy bộ đại binh Bắc tiến đánh giặc Thanh. Ngày 20 tháng Chạp đến núi Tam Điệp, ngày 30 Tết Nguyễn Huệ phân binh thành 5 đạo, tự mình điều khiển trung quân trực chỉ Thăng Long. Ngày Mùng Ba Tết Kỷ Dậu (1789) vua Quang Trung dùng kế hư binh, không đánh mà hạ được đồn Hà Hồi. Giờ Thân (khoảng 5 giờ chiều) ngày mùng Năm Tết, đại quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long. Vua Quang Trung uy nghi ngồi trên voi trận giữa muôn tiếng reo hò của quân dân đại thắng, áo bào sạm đen màu thuốc súng. Ngày mùng Bảy Tết, đúng như lời đã hứa, vua Quang Trung truyền mở đại tiệc khao quân ăn Tết Khai Hạ ở Thăng Long. Trước đó mấy ngày, tại Đống Đa, tướng Thanh là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ chạy về mạn Bắc, đến địa phận huyện Phượng Nhãn phải vứt bỏ ấn tín để thoát lấy thân. Như vậy là chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã tiêu diệt và quét sạch 20 vạn quân xâm lược và phu phen nhà Thanh ra khỏi bờ cõi. Thật là một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử nhân loại, so với phương tiện chiến tranh thời bấy giờ.
Tháng 1 năm 1979, viện cớ phải “dạy cho Việt Nam một bài học”, Trung Quốc đưa 20 sư đoàn tấn công 6 tỉnh biên giới Bắc Việt Nam. Thật sự, Bắc Kinh tấn công Việc Nam vì Hà Nội đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của mình tại vùng Đông Dương. Lúc đó, Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín trong việc bảo vệ đồng minh Khờ Me Đỏ. Thay vì nâng cao được uy tín thì Trung Quốc đã bị mất mặt vì cuộc tấn công đã bị bộ đội Việt Nam chặn đứng, gây tổn thất nặng nề cho Giải Phóng Quân Trung Quốc. Một trong những mong đợi của Trung Quốc là Việt Nam sẽ tung quân đội chính quy vào vòng chiến và sẽ phải rút bớt binh lính của mình từ  Cam Bốt về để điều lên mặt trận phía Bắc. Trong cả hai lãnh vực này, Việt Nam đã không bị rơi vào bẫy. Quân đội chính quy Việt Nam không cần phải lâm trận, trong lúc bộ đội địa phương và dân quân vùng biên giới đã thành công trong việc cản đường các xe tăng và quân lính Trung Quốc. Còn tại Cam Bốt, không những Việt Nam không rút quân mà lại còn tăng viện thêm cho lực lượng của mình. Sau ba tuần lễ giao tranh trong lãnh thổ Việt Nam, sau khi giành được quyền kiểm soát nhiều thành phố dọc theo biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, ngày 16 tháng 3, Trung Quốc tuyên bố “hoàn thành mục tiêu” và rút quân về nước sau khi tàn phá toàn bộ những nơi bị họ chiếm đóng. Dù ngắn ngày, nhưng cuộc chiến tranh Trung-Việt vào năm 1979 đã gây ra những tổn thất rất lớn, đặc biệt về nhân mạng. Trung Quốc cho rằng họ đã giết được 37,000 binh lính Việt Nam, đánh bị thương 7,000 người và bắt được 5,000 tù binh. Riêng phía Việt Nam vào thời ấy đã xác định số thương vong của quân đội Trung Quốc là 45,000 người.

3.LỊCH SỬ TÁI DIỄN: TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

Vào giữa thập niên 60, cuộc chiến Việt Nam và quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ-Liên Sô-Trung Quốc bước vào một ngả rẽ. Liên Sô để rỏ ý định muốn bành trướng ảnh hưởng của mình trong vùng Đông Nam Á mà miền Bắc Việt Nam là đồng minh đắc lực nhất. Hoa Kỳ bắt đầu chính sách hòa giải tạm thời với Trung Quốc để đối đầu với Liên Sô. Trung Quốc đã để lộ ý định không muốn thấy một nước Việt Nam thống nhất vì dù rằng dưới chế độ nào, một nước Việt Nam thống nhất sẽ là chướng ngại vật đầu tiên ngăn cản âm mưu bành trướng xuống phía Nam của mình. Đầu năm 1974, Trung Quốc chiếm các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm trong quần đảo Hoàng Sa do Hải Quân VNCH trấn giữ. Hoa Kỳ đã làm ngơ trước hành động của Trung Quốc. Sau năm 1975, Trung Quốc bắt đầu tăng cường sự hiện diện của mình tại Căm Bốt. Chỉ trong 4 năm, Trung Quốc đã tăng cường số cố vấn quân sự lên đến 20,000 người. Việt Nam, với sự giúp đỡ của Liên Sô, đã quyết định đưa quân vào Căm Bốt lật đổ chế độ Pol Pot dù phải trả một giá rất đắt với sự lên  án  và  chế tài của cộng đồng quốc tế trong gần cả thập niên. Trận  chiến  biên  giới  Việt-Trung xảy ra sau đó với  cao điểm  năm 1979 và tiếp tục kéo  dài trong những  năm kế tiếp trên  bình  diện  nhỏ hơn. Sự rút lui của Hoa Kỳ đã để lại một khoảng trống trong vùng Đông Nam Á. Hoa Kỳ, các quốc gia Tây Phương cũng như Nhật Bản, Đại Hàn bắt đầu ào ạt đầu tư vào Trung Quốc với hai lý do:

-lợi dụng giá nhân công rẻ mạt.
-hy vọng vào khối thị trường tiêu thụ khổng lồ với hơn 1 tỷ dân nội địa.

Thật sự, việc chuyển các dây chuyền sản xuất vào Trung Quốc cũng đã mang lại cho các đại công ty đa quốc gia lợi nhuận rất nhiều. Cứ mỗi đô la tiền lời, Trung Quốc chỉ hưởng được tối đa là 30% còn 70% về phần các công ty ngoại quốc. Các đại công ty đa quốc gia thành công trong điều số 1 nhưng thất bại ê chề trong điều số 2.  Trung Quốc đã đánh cắp được kỹ thuật sản xuất của tất cả mọi loại hàng trên thế giới và đã dùng những kỹ thuật này để chế các sản phẩm nội địa dành cho dân trong nước. Các sản phẩm ngoại quốc dù sản xuất tại Trung Quốc chỉ được một số rất ít thành phần giàu có tiêu dùng. Ngoài ra các nước giàu có cũng phải trả giá khi chuyển các công việc dành cho dân chúng trong nước sang Trung Quốc. Những kỹ thuật đánh cắp không những áp dụng cho kỹ nghệ dân sự mà còn cho mục tiêu quân sự. Trung Quốc bắt đầu kế hoạch tăng trưởng kinh tế và canh tân quân sự của mình. Năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 bãi đá ngầm thuộc nhóm đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) phía tây  Trường  Sa sau một cuộc giao tranh ngắn ngủi với hải quân Cộng Sản Việt Nam. Sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và việc Hoa Kỳ sa lầy trong 2 cuộc chiến  tại Iraq và Afghanistan là cơ hội bằng vàng giúp cho Trung Quốc rảnh tay trong chiến lược phát triển và bành trướng về phía Nam của mình. Năm 1995, Trung Quốc chiếm bãi đá ngầm thuộc nhóm đá Vành Khăn (Mischief Reef) phía đông Trường Sa của Philippines. Cuối năm 2008,  chính quyền của Tổng Thống Bush đã trả giá cho những sự sai lầm trong 8 năm cầm quyền của mình bằng sự thất bại rõ ràng trước đảng Dân Chủ do Tổng Thống Obama lãnh đạo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2014

1. ITN-010414-CHINA-1-Truyen thong Trung Quoc.doc: Các bài viết của Nhân dân Nhật Báo và nhóm quá khích Trung Quốc.
2. ITN-011614-CHINA-1-Tinh hinh Trung Quoc.doc: Các bài viết về tình hình Trung Quốc.
3. ITN-013014-CHINA-1-Dau tu song phuong.doc: Các bản tin về Trung Quốc và đầu tư song phương.
4. ITN-022314- CHINA-1-Quan he Trung Quoc-Nhat Ban.doc: Các bản tin về quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản.
5. ITN-052214-CHINA-1-Bo mat that cua TQ.doc: Các bài viết về bộ mặt thật của Trung Quốc.
6. ITN-052314-CHINA-1-Duong luoi bo.doc: Các bản tin liên quan đến đường lưỡi bò.
7. ITN-052514-CHINA-1-Nhung y kien trung thuc.doc: Những người Trung  Quốc đàng hoàng viết về quan hệ giữa Trung Quốc và các nước lân bang.
8. ITN-052914-CHINA-1-Quan luc TQ.doc: Các tin tức liên quan đến Quân lực Trung Quốc.
9. ITN-053014-CHINA-1-Quan he Trung Quoc-Hoa Ky.doc: Các bản tin về quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ.
10. ITN-053114-CHINA-1-Tham vong cua TQ.doc: Các bản tin về tham vọng của Trung Quốc.
11. ITN-080614-CHINA-1-Quan he Trung Quoc-Nga So.doc: Các bản tin về quan hệ Trung Quốc và Nga Sô.
12. ITN-081214-CHINA-1-Quan he Trung Quoc-Hoa Ky.doc: Các bản tin về quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ.
13. ITN-082414-CHINA-1-Chien luoc & Chien thuat Trung Quoc.doc: Các bản tin về chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc.
14. ITN-092514-CHINA-1-Trung Quoc va Tranh chap Lanh hai.doc: Các bản tin liên quan đến Trung Quốc và tranh chấp Biển Ðông và biển Hoa Đông.

2013

1. ITN-010213-CHINA-1-Tuong lai Trung Quoc.doc: Các bài viết về tương lai Trung Quốc.
2. ITN-012113-CHINA-1-Trung Quoc hu doa lan bang.doc: Những lời tuyên bố quá khích và hành động gây căng thẳng của Trung Quốc trong vùng Hoàng Hải, biển Nhật Bản, Senkaku và Biển Ðông năm 2013.
3. ITN-022213-CHINA-1-Cong nghiep Quoc phong TQ.doc: Các bài viết về công nghiệp Quốc phòng và quân lực Trung Quốc.
4. ITN-052213-CHINA-1-Hanh vi xam lan cua TQ.doc: Các bản tin về các hành vi xâm lấn của Trung Quốc.
5. ITN-060813-CHINA-1-Trung Quoc-Cac tranh chap khac.doc: Các bản tin về những tranh chấp khác của Trung Quốc.
6. ITN-061413-CHINA-1-Hoi nghi thuong dinh TQ-HK.doc: Các bản tin về hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc và Hoa Kỳ.
7. ITN-071413-CHINA-1-Trung Quoc va Chau Phi.doc: Các bản tin về sự xâm nhập của Trung Quốc vào Châu Phi.
8. ITN-091213-CHINA-1-Kinh te-Tai chanh Trung Quoc.doc: Các bài viết về kinh tế & tài chánh Trung Quốc.
9. ITN-092913-CHINA-1-Trung Quoc va Trung Dong-Trung A.doc: Các bản tin về liên hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Đông và Trung Á.
10. ITN-102213-CHINA-1-Gian diep Trung Quoc.doc: Các bản tin về gián điệp Trung Quốc tại ngoại quốc.

12. ITN-112113-CHINA-1-Trung Quoc va The gioi.doc: Các bài viết về Trung Quốc và thế giới.


II.SỨC MẠNH CỦA TRUNG QUỐC

Trung Hoa Cộng Sản, dưới sự cai trị của Mao Trạch Đông, là một nước cô lập với các nước bên ngoài. Các cuộc cải cách vĩ đại gần như không tưởng và rất tàn bạo như Bước tiến nhẩy vọt, Cải cách ruộng đất, Phong trào tam phản đã đưa Trung Quốc vào hàng ngũ các nước nghèo nhứt thế giới. Đặng Tiểu Bình đã thay đổi nền kinh tế của Hoa Lục, để rồi chỉ trong hơn ba thập niên đã trở thành 1 cường quốc kinh tế. Trung Quốc không còn là 1 nước đóng cửa nữa, Trung Quốc đã đã mở cửa cho tư bản ngoại quốc vào đầu tư và du nhập kỹ thuật Tây Phương. Đặng Tiểu Bình là người có công trong việc biến Trung Quốc - từ 1 quốc gia lạc hậu, chậm tiến và bị cô lập - thành 1 quốc gia kỹ nghệ. Năm 2011, sau hơn 30 phát triển vượt bực, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế thứ 2 thế giới sau Hoa Kỳ về tổng sản lượng nội địa (GDP) tính theo tỷ lệ hối đoái (exchange-rate terms) cũng như khả năng mua sắm mỗi đầu người (Purchasing Power Parity: PPP). Sau đây là những dữ liệu mới nhất về nền kinh tế của Trung Quốc:

Tổng sản lượng nội địa GDP (Gross Domestic Product) 2011 nếu tính theo tỷ lệ hối đoái (exchange-rate terms):
-Thứ 1 thế giới: 15.0 ngàn tỷ Mỹ Kim (Hoa Kỳ: 2011)
-Thứ 2 thế giới: 7.3 ngàn tỷ Mỹ Kim (Trung Quốc: 2011)
-Thứ 3 thế giới: 5.39 ngàn tỷ Mỹ Kim (Nhật Bản: 2010)
Tổng sản lượng nội địa (Purchasing Power Parity: PPP): 10.3 ngàn tỷ Mỹ Kim nếu tính theo khả năng mua sắm mỗi đầu người.
Tăng trưởng kinh tế: Trung bình 10.3% mỗi năm trong suốt 30 năm qua.
Lợi tức mỗi đầu người: Tăng trưởng trung bình 8% mỗi năm trong suốt 30 năm qua – Năm 2010, xếp hạng trung bình theo tiêu chuẩn thế giới: 4,382 Mỹ Kim mỗi năm (hạng 91 trong 181 nền kinh tế chính của thế giới) hay là 7,544 Mỹ Kim mỗi năm (PPP) (hạng 94 trong 176 nền kinh tế chính của thế giới). Lợi tức mỗi đầu người của Hoa Kỳ là IMF: 46,381 Mỹ Kim - hạng 6 hay World Bank: 46,426 Mỹ Kim - hạng 6 và của Nhật Bản là IMF: 32,608 Mỹ Kim - hạng 32 hay World Bank: 32,443 Mỹ Kim - hạng 24.
Đồng bản vị: Nguyên hay Yuan (CNY) và cũng thường gọi là Renminbi (RMB). Trong năm 2007, mỗi Mỹ Kim bằng 6.87 Yuan, mỗi 100 Yen bằng 6.47 Yuan, mỗi Euro bằng 10.55 Yuan, mỗi Anh Kim bằng 15.23 Yuan. Tháng 6-2010, Trung Quốc đã phài tăng tỉ giá của đồng Nguyên ở mức mỗi Mỹ Kim bằng 6.789 đồng Yuan. Tháng 9-2011, tỉ giá của đồng Nguyên là 6.36 đồng Yuan ăn một Mỹ Kim. Tháng 5-2012, tỉ giá của đồng Nguyên là 6.267 đồng Yuan ăn một Mỹ Kim.
Lạm phát: 4.9% (1-2011)
Lực lượng lao động: 780 triệu (1st 2010)
    Lực lượng lao động theo ngành: nông nghiệp (39.5%), kỹ nghệ và xây dựng (27.2%), dịch vụ (33.2%).
Lương trung bình: $4,260 mỗi năm (2010).
Tỷ lệ thất nghiệp: 4.2% (July 2010).
Tổng sản lượng quốc gia theo ngành 2010: kỹ nghệ và xây dựng (46.8%), dịch vụ (43.6%), nông nghiệp (9.6%).
Tổng sản lượng quốc gia theo lãnh vực: tiêu thụ tư nhân (36.4%), chi tiêu chính phủ (13.7%), đầu tư (40.9%), xuất cảng (39.7%), nhập cảng (-31.9%).
Xuất cảng: 1.581 ngàn tỷ Mỹ Kim (2010). Sản phẩm xuất cảng chính: Office machines & data processing equipment, Telecommunications equipment, Apparel & clothing, Miscellaneous manufactures. Khách hàng chính: Hoa Kỳ (20.03%), Hồng Kông (12.03%), Nhật Bản (8.32%), Đại Hàn (4.55%), Đức Quốc (4.27%). Các thống kê mới đây cho thấy cuối năm 2009, Trung Quốc đã vượt qua Đức để trở thành nước xuất khẩu lớn nhất và đang qua mặt Nhật để trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai, sau Mỹ. Không chỉ thế, Trung Quốc cũng đã vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xe hơi lớn nhất thế giới.
Nhập cảng: 1.327 ngàn tỷ Mỹ Kim (2010). Sản phẩm nhập cảng chính: Electrical machinery, Petroleum & related products, Professional & scientific instruments, Metalliferous ores and scrap, Office machines & data processing equipment. Nhập cảng từ các nước: Nhật Bản (12.27%), Hồng Kông (10.06%), Đại Hàn (9.04%), Hoa Kỳ (7.66%). Đài Loan (6.84%), Đức Quốc (5.54%).
Ðối tác thương mại (cuối tháng 5-2010): EU: 219 tỷ Mỹ Kim – Hoa Kỳ : 172 tỷ Mỹ Kim - ASEAN: 111.8 tỷ Mỹ Kim.
Sở hữu công khố phiếu Hoa Kỳ: 1.16 ngàn tỷ Mỹ Kim.
Tiền nợ ngoại quốc: 406.6 tỷ Mỹ Kim.
Tiền nợ trong nước: 17.5% tổng sản lượng quốc gia GDP (2010)
Lợi tức hàng năm: 1,149 tỷ Mỹ Kim.
Chi tiêu hàng năm: 1,270 tỷ Mỹ Kim.
Viện trợ kinh tế cho các nước nghèo: $1.12 mổi đầu người (2008)
Dự trữ ngoại tệ:  Tính đến cuối tháng 12/2013 đã đạt mức kỷ lục 3,820 tỷ đô la.
Dự trữ vàng: 1,054 tấn (so với Hoa Kỳ: 8,134 tấn)

1.KINH TẾ & TÀI CHÁNH

Chương trình phát triển kinh tế và tài chánh của Trung Quốc có thể chia làm 2 giai đoạn:

GIAI ĐOẠN I:

Đầu tư của các công ty ngoại quốc: Trong giai đoạn đầu, Trung Quốc chấp nhận một vị trí khiêm nhường, chỉ có một thế mạnh là nhân công rẻ cần công nghệ cao và nguồn vốn dồi dào của phương Tây. Các công ty đa quốc gia, chỉ tính toán lợi nhuận đầu tư ồ ạt vào Trung Quốc. Với một dân số 1 tỷ 300 triệu dân, Trung Quốc có một đội ngũ nhân công rẻ mạt nhưng cũng rất chuyên cần và khéo tay. Theo thống kê hiện nay, Trung Quốc có 500,000 công ty có vốn đầu tư của ngoại quốc. Năm 1990, số ngoại quốc đầu tư là 50 tỷ Nhân Dân Tệ, đến năm 2002 con số này lên đến 3,377 tỷ Nhân Dân Tệ ( 1 Mỹ Kim = 8 Nhân Dân Tệ vào lúc đó ). Bên cạnh 500,000 xí nghiệp có vốn của ngoại quốc, Trung Quốc còn có 300,000 xí nghiệp trong đó có 12,000 đại xí nghiệp quốc doanh, với hơn nửa tỷ công nhân cần mẫn. Lấy ví dụ trong kỹ nghệ xe hơi, công ty chế tạo xe hơi Dongfeng Motor của Trung Quốc đã ký thỏa hiệp với 5 công ty khác nhau để sản xuất xe hơi ngay tại nội địa (nhóm PSA của Pháp để sản xuất xe Citroen, xe Peugeot 307, với Renault của Pháp và Nissan của Nhật Bản, với Hyundai của Nam Hàn để làm xe KIA). Hãng Guangzhou Automotive hợp tác sản xuất với Honda và Toyota.
Giá cả: Bất cứ một người nào đi thăm một vòng các cửa hàng bách hóa ở Bắc Mỹ sẽ thấy hàng hóa Made in China tràn ngập khắp nơi, bán với giá rẻ mạt so với các hàng hóa sản xuất tại các nước tư bản. Xin đơn cử 1 thí dụ điển hình : xe hơi sản xuất tại Trung Quốc được bán ra ngoài với giá khoảng 10,000 Mỹ Kim trong khi 1 xe cùng kích thước sản xuất tại Nhật Bản hay tại USA được bán với giá trên 20,000 Mỹ Kim. Xuất cảng của Trung Quốc vượt xa nhập cảng, đem lại một số thặng dư ngoại tệ khổng lồ mỗi năm cho Trung Quốc.
Xưởng sản xuất hàng hóa cho cả thế giới: Trong năm 2005, Trung Quốc đã cung cấp khoảng 50% số lượng hàng hóa cho thị trường thế giới: 90% DVD, 85% đồ chơi, 85% máy cày, 85% đồng hồ, 70% máy in, 55% máy điện toán cầm tay, 50% quạt máy, 40% lò microwaves, 36% TV, 30% máy lạnh, 25% máy giặt, máy sấy, 20% tủ lạnh. Thí dụ điển hình nhứt là công ty bách hóa Wal-Mart của Hoa Kỳ. Công ty này đã cộng tác chặt chẽ với Trung Quốc. 80% các hàng hóa của Wal-Mart được sản xuất ở Trung Quốc. Wal-Mart và các người bạn mới Trung Quốc đã xóa tên nhiều đại công ty lâu đời trên thế giới như K-Mart, Woolco, FAO Schwartz. Một số lớn các đại công ty kỹ nghệ đã dời sang Trung Cộng để lợi dụng tình trạng nhân công rẻ như bèo ở xứ này. Thí dụ, hãng đóng tầu bay, xe lửa của Gia Nã Đại Bombardier đã dọn một phần của công ty sang Trung Hoa.
Xây dựng hạ tầng cơ sở: Tổng sản lượng quốc gia (GNP) từ 47 tỷ Mỹ Kim năm 1978 lên đến 8,800 tỷ năm 2005. Với số thặng dư ngoại tệ khổng lồ mỗi năm, Trung Quốc đã xây dựng rất nhiều công trình rất đáng kể. Xin đơn kể vài thí dụ:
-Chỉ trong năm 2004, thành phố Thượng Hải đã xây một số nhà chọc trời bằng cả số nhà chọc trời của thành phố Nữu Ước gộp lại.
-Chỉ trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc đã thiết lập 192,000 km xa lộ.
-Năm 2005, Trung Quốc có thêm 13,000 km đường hỏa xa, đặc biệt đường nối liền Tần Hải với Lhassa (thủ đô Tây Tạng).
-Một công trình vĩ đại sắp được hoàn thành vào năm 2009 là đập thủy điện Tam Hiệp (Three  Gorges); sau khi hoàn thành vào năm 2009, đập này sẽ là đập thủy điện lớn nhứt thế giới.

GIAI ĐOẠN II

Chỉ mới cách đây vài thập niên, dưới con mắt của phương Tây, kinh tế Trung Quốc chỉ có một thế mạnh là nhân công rẻ và đông, khó có thể cạnh tranh với các công nghệ cao và nguồn vốn dồi dào của phương Tây. Nhưng giờ đây phương Tây có lý do để e ngại. Thật khó cạnh tranh về giá trị, với sức lao động rẻ được trang bị những công nghệ tiên tiến và nhất là tiền vốn không hề thua kém phương Tây. Sau nhiều năm thúc đẩy xuất khẩu đầu tư và tích lũy vốn, tiềm lực kinh tế Trung Quốc giờ đã lớn mạnh lên rất nhiều. Cho đến hôm nay, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã lên đến trên 2,000 tỷ Mỹ kim mà Hoa Kỳ là con nợ lớn nhất. Thực tế là vào đầu thế kỷ 21, Trung Quốc đã thay Đức Quốc trong vị thế cường quốc kinh tế thứ 3 thế giới. Hãng tin AP tháng 8-2010 trích lời kinh tế gia quốc tế trưởng của Capital Economics tại London nói GDP của Trung Quốc có thể đã vượt qua Nhật Bản trong quý hai năm 2010. Dự đoán này dựa trên GDP của hai cường quốc kinh tế trong năm ngoái và tốc độ tăng trưởng của họ. GDP của Trung Quốc trong năm 2009 là 4,980 tỷ USD, còn của Nhật Bản là 5,070 tỷ với tốc độ tăng trưởng tương ứng của hai nước là 10 phần trăm và 3 phần trăm. Cũng theo AP, Trung Quốc có vẻ cũng cho rằng họ đã vượt qua Nhật Bản. Trong một thảo luận về chính sách trên trang mạng của Cục Ngoại hối của Trung Quốc, ông Dị Cương, cục trưởng và phó thống đốc ngân hàng nhà nước viết: "Trung Quốc hiện đã là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới". Trung Quốc đang cố gắng tái cấu trúc nền kinh tế. Với nguồn lợi từ công nghiệp nhẹ, Trung Quốc đang lên kế hoạch tái đầu tư đa dạng vào các lãnh vực sinh lợi cao như tài chánh, công nghiệp xe hơi hoặc sản xuất chất bán dẫn:

Quốc tế hóa các doanh nghiệp: Thống kê 2009 của tạp chí Fortune, về 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới xét trên phương diện doanh số đã ghi nhận sự có mặt của 37 công ty Trung Quốc, một sự gia tăng đáng kể so với con số của năm 2008 là 29 công ty. Trong chiều hướng ngược lại, số liệu thống kê vừa qua đã cho thấy, số lượng doanh nghiệp Mỹ trong bảng xếp hạng của Fortune đã giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử. Trong thời gian qua, nhiều công ty lớn của Trung Quốc đã có những bước đi nhằm mục đích trở thành công ty quốc tế. Trong số đó, có thể kể đến China Mobile, Ping An, Chinalco. Tuy nhiên, mặc cho những lợi thế về quy mô, các công ty này vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn trên con đường quốc tế hóa.

Tái đầu tư ở nước ngoài: Trong lãnh vực phát triển kỹ nghệ, từ nhiều năm nay, Trung Quốc đã dùng số ngoại tệ sở hữu khổng lồ để đầu tư ở nước ngoài:

-Công ty Trung quốc Lenovo Computer đã mua toàn thể bộ phận sản xuất máy vi tính của IBM vào năm 2004 và trở thành nhà sản xuất thứ 3 thế giới trong lĩnh vực này. Các nhà điều hành Trung Quốc cho rằng đây là con đường ngắn nhất giúp họ tiến quân ra thị trường thế giới mà không bị cản trở bởi pháp luật cũng như hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của nước sở tại. Các công ty của Đức, Anh, Mỹ, Pháp đều được các công ty Trung Quốc mua lại. Các công ty xây dựng Trung Quốc đang đảm đang rất nhiều công trình xây dựng tại châu Phi. Tính đến cuối năm 2005, Trung Quốc đã thiết lập được 1,500 công ty tại 180 nước trên thế giới.

-Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và châu Phi đang gia tăng với tốc độ mạnh mẽ. Bất chấp khủng hoảng và suy giảm tăng trưởng kinh tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, nhiều nhà quan sát vẫn tin rằng, kinh tế châu Phi sẽ có những biến đổi ngoạn mục. Trong bối cảnh đó, vai trò của Trung Quốc đối với sự phát triển kinh tế của “lục địa đen” ngày càng tăng. Nhờ giá cả các loại hàng hóa cơ bản tăng mạnh, GDP của châu Phi tăng từ 5-7% trong cả hai năm 2007-2008 và đã tăng 2% trong năm 2009 dù kinh tế thế giới suy thoái. Trung Quốc không phải là quốc gia duy nhất nhận thấy những cơ hội ở châu Phi, nhưng Trung Quốc gần như là quốc gia duy nhất đón nhận cơ hội này một cách nghiêm túc. Và điều đó đem tới cho bộ mặt kinh tế châu Phi những chuyển biến lớn. Theo ông Chris Alden, tác giả của cuốn sách mang tựa đề "China in Africa" (tạm dịch: Trung Quốc ở châu Phi), vào năm 2000, thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và châu Phi là 10 tỷ USD. Tới năm 2006, con số này là 55 tỷ USD, và vào năm 2009, kim ngạch thương mại song phương đã lên tới 90 tỷ USD, đưa Trung Quốc trở thành nước đối tác thương mại lớn nhất của châu Phi. Trong khi đó, nước Mỹ đã tụt xuống vị trí thứ hai trong danh sách các nước đối tác thương mại với châu lục này, với kim ngạch 86 tỷ USD trong năm ngoái. Hiện nay, các công ty Trung Quốc đã có mặt trong hàng loạt ngành nghề ở châu Phi, khai thác dầu từ Sudan tới Angola, khai thác gỗ từ Liberia tới Gabon, khai mỏ từ Zambia tới Ghana, phát triển trang trại từ Kenya tới Zimbabwe. Các nhà thầu Trung Quốc thì làm đường từ khắp Guinea Xích đạo tới Ethiopia, làm đập từ Congo tới sông Nile, xây bệnh viện, trường học, sân vận động, dinh tổng thống... trên khắp châu lục này. Congo là một quốc gia rộng lớn của châu Phi, với diện tích bằng cả khu vực Tây Âu, nhưng gần như không có một con đường trải nhựa nào. Bệnh AIDS và sốt rét luôn hoành hành ở đất nước có tỷ lệ nghèo đói vào hàng cao nhất thế giới này. Tuy nhiên, doanh nghiệp quốc doanh Công ty Kỹ thuật đường sắt Trung Quốc (CREC) đã quyết định đầu tư 6 tỷ USD để xây dựng hàng ngàn km đường bộ và đường sắt, cùng 32 bệnh viện và 145 trung tâm y tế ở Congo. Đổi lại phía Trung Quốc sẽ nhận được quyền thuê mỏ đồng và cobalt trị giá 3 tỷ USD ở Congo. Các quan chức của IMF cũng phải thừa nhận là mô hình Trung Quốc đối với sự phát triển của châu Phi có những ưu điểm vượt trội. Thứ nhất là tính nhanh chóng. Để có các khoản vay đa phương, các nước châu Phi phải đàm phán vài năm trời, trong khi các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Angola diễn ra trong vòng có vài tuần. Các doanh nghiệp Trung Quốc cũng xông xáo khi làm việc tại châu Phi. Ở nhiều nơi khắp châu Phi những ngày này, người ta có thể dễ dàng bắt gặp các kỹ sư người Trung Quốc đứng chỉ đạo công nhân làm việc trên các con đường, các công trường dưới cái nóng khắc nghiệt - điều mà các quan chức và nhân viên của IMF vốn quen với trang phục vest và phòng máy lạnh không làm được. Bên cạnh đó, mô hình phát triển của châu Á đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn. Các chính phủ ở châu Phi thận trọng trước những bất ổn kinh tế của phương Tây trong vòng hai năm qua và tìm thấy một hình mẫu phát triển tốt hơn ở khu vực châu Á. Các đặc khu kinh tế - một trong những động cơ tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc trong hai thập kỷ qua - đang xuất hiện ở nhiều nơi trên khắp châu Phi. Tuy vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa các doanh nghiệp Trung Quốc với các công ty châu Âu tại châu Phi là các doanh nghiệp Trung Quốc dám chấp nhận rủi ro hơn. Mới đây nhất, vào tháng 5, Trung Quốc công bố thỏa thuận trị giá 23 tỷ USD để phát triển lĩnh vực lọc hóa dầu ở Nigeria. Sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi đã vấp phải không ít sự chỉ trích, không chỉ từ phía phương Tây mà còn ngay từ chính “lục địa đen”. Bởi vậy, Trung Quốc đã và đang thực hiện một số nỗ lực để cải thiện hình ảnh ở đây. Nhiều nhà ngoại giao của Trung Quốc đã đóng vai trò trung gian trong việc hòa giải các cuộc xung đột ở một số nước châu Phi. Trung Quốc hiện đang là quốc gia đóng góp quân gìn giữ hòa bình nhiều thứ tư cho Liên Hiệp Quốc, nhiều binh lính của Trung Quốc đang thực hiện nhiệm vụ này ở Liberia, Sudan, Congo… Trung Quốc đã tạo ra sự thay đổi trong quan niệm của thế giới về châu Phi. Trước kia, người ta thường cho rằng, châu Phi là một địa chỉ để làm từ thiện, nhưng nay, thế giới cần xem châu lục này là một địa chỉ kinh doanh. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), vào năm 2006, lần đầu tiên, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào châu Phi đã vượt số tiền viện trợ cho châu lục này, với vốn FDI là 48 tỷ USD và tiền viện trợ là 40 tỷ USD. Vào năm 2009, FDI vào châu Phi đã là 88 tỷ USD. Trung Quốc cũng có những thương vụ mua bán lớn ở châu Phi, điển hình như vụ đầu tư 5.5 tỷ USD để mua cổ phần trong ngân hàng Standard Bank của Nam Phi, hay vụ đầu tư 14 triệu USD  vào một công ty điện thoại di động ở Somalia. Bắc Kinh khẳng định, họ là đối tác phát triển của châu Phi, đem đến cho nơi này các khoản đầu tư và chiếm lĩnh thị trường và tiếp cận với nguồn tài nguyên ở dây.

-Trung Quốc đang ngày càng tăng cường và mở rộng đầu tư tại Mỹ La tinh trong các lĩnh vực khoáng sản và dầu mỏ, nhưng đồng thời cũng vươn ra trong các khu vực khác như hạ tầng đường sắt, sản xuất thép. Chính sách của người khổng lồ châu Á đang chủ trương đa dạng hóa và củng cố mạnh mẽ sự hiện diện của họ trong khu vực đang có mức tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng sau khủng hoảng. Trong những năm vừa qua, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tăng cường thực hiện các chuyến thăm kinh tế tới Mỹ La tinh, ký kết các thỏa thuận về đầu tư và thăm dò khai thác với các nước sản xuất dầu mỏ như Venezuela, Mexico, Brazil, Argentina, Ecuador và Colombia. Tháng 7 vừa qua, Trung Quốc đã chuyển cho Venezuela khoản tiền cho vay đầu tiên trong gói tín dụng 20 tỷ USD tài trợ cho 19 dự án phát triển. Cũng trong tháng đó, một quan chức của Trung Quốc thông báo Peru đã trở thành nước tiếp nhận đầu tư quan trọng của họ tại Mỹ La tinh với số tiền 1.4 tỷ USD, trong đó 1.1 tỷ USD tập trung vào ngành khai thác mỏ. Tuy nhiên, quốc gia thu hút nhiều nhất đầu tư của Trung quốc trong khu vực lại là Brazil, do nhu cầu tài chính cao trong lĩnh vực phát triển hạ tầng. Trên 50% các cơ hội đầu tư của Trung Quốc tại Mỹ La tinh tập trung ở Brazil theo thông tin của của trưởng ban Mỹ La tinh thuộc ngân hàng HSBC Gerardo Mato cung cấp cho AFP tại diễn đàn các nhà đầu tư Trung Quốc- Mỹ La tinh tổ chức vừa qua tại Bắc Kinh. Để chuẩn bị cho cho Cúp bóng đá thế giới năm 2014 và Olimpic 2016 tổ chức tại Brazil, quốc gia này cần nguồn vốn đầu tư từ 60 đến 120 tỷ USD và Trung Quốc là một trong những đối tác có thể sẽ tham gia. Trung Quốc chưa hài lòng với việc chỉ mua quặng sắt, họ còn hướng tới mục tiêu đầu tư xây dụng nhà máy sản xuất thép tại Brazil thể hiện qua việc ký kết thỏa thuận giữa công ty thép Wuhan Iron and Steel và đối tác LLX của Brazil, trong đó có điều khoản, phía Trung Quốc sẽ đầu tư 5 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất gang thép. Sự bành trướng của Trung Quốc còn vươn tới các ngành khác như xây dựng đường sắt cụ thể là đường sắt cao tốc trong các dự án của Brazil về xây dựng tuyến đường từ cố đô Rio de Janeiro - Sao Paulo và tại Argentina, chặng từ thủ đô Buenos Aires nối với tỉnh Cordoba, đây quả là một thách thức lớn đối tập đoàn xây dựng đường sắt cao tốc hàng đầu của Pháp TGV. Trung Quốc và Argentina đã ký thỏa thuận trong ngành đường sắt với tổng đầu tư 10 tỷ USD. Các công ty của Mỹ La tinh đang tập trung hướng tới việc tìm kiếm các nguồn đầu tư từ Trung Quốc phục vụ cho viêc phát triển của họ hơn là việc đầu tư vào Trung Quốc. Đầu tuần vừa qua tập đoàn Vale của Brazil, nhà sản xuất thép hàng đầu thế giới thông báo cho biết, họ đã nhận được 1.2 tỷ USD tín dụng của Trung Quốc để đóng mới 12 tầu vận tải cỡ lớn để chuyên chở khoáng sản cho Trung Quốc khách hàng số 1 của họ. Cuối năm 2009, Tập đoàn dầu khí Brazil Petrobras thông báo, họ đã nhận được 10 tỷ USD nguồn tín dụng với thời hạn cho vay 10 năm từ Trung Quốc cho chương trình đầu tư 2008-2013.

-Trung Quốc đang đặt nền móng cho “con đường tơ lụa mới” tới châu Âu, bằng cam kết đầu tư những khoản sinh lợi kếch xù vào lục địa già còn đang ì ạch phục hồi kinh tế, bất chấp hố sâu ngăn cách về ý thức hệ với phương Tây. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã hoàn tất chuyến thăm viếng có tính bước ngoặt tới Hy Lạp, Italy và Thổ Nhĩ Kỳ. Các hợp đồng kinh tế được ký kết trong chuyến đi của ông Ôn Gia Bảo năm 2010 đã giúp mở rộng hơn tầm ảnh hưởng của cường quốc châu Á này ở châu Âu. Tại Roma (Italy), hôm 7/10, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã thông qua các thỏa thuận trị giá 2.25 tỷ Euro (3.13 tỷ USD), trong đó bao gồm các dự án điện mặt trời và Internet băng thông rộng. Ông cũng cam kết sẽ nâng gấp đôi kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2015. Một ngày sau đó ở Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ), nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ký một loạt hợp đồng khác, trong đó có thỏa thuận hợp tác xây dựng tuyến đường sắt Thổ Nhĩ Kỳ dài 4,500 km. Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ, Recep Tayyip Erdogan, đã gọi dự án này là “Con đường tơ lụa mới”, ám chỉ tới mạng lưới thương mại xa xưa kết nối châu Á với các quốc gia Địa Trung Hải. Riêng tại Hy Lạp, quốc gia đang ngập đầu trong nợ nần và phải vật lộn với chương trình thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết sẽ mua trái phiếu Hy Lạp, khi nước này gây quỹ trở lại trên thị trường quốc tế. Ông cũng ký những thỏa thuận nhằm mở rộng mậu dịch và giúp tăng tiến ngành hàng hải của Hy Lạp. Hy Lạp hiện rất cần đầu tư quốc tế kể từ khi tránh được sự sụp đổ về tài chính trước đây. Thủ tướng Hy Lạp thừa nhận rằng, những thỏa thuận vừa được ký kết với Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng đáng kể. Ông Ôn Gia Bảo tuyên bố, Trung Quốc sẽ nỗ lực giúp các quốc gia châu Âu đang gặp khó khăn vượt qua được cơn khủng hoảng tài chính. Tập đoàn đóng tàu Trung Quốc, Cosco, đang mở rộng khu vực container của họ tại cảng Piraeus, ngay bên ngoài thủ đô Athens của Hy Lạp. Hai năm trước, Trung Quốc đã thuê cảng biển này với thời hạn sử dụng 35 năm. Trong chuyến thăm Athens hôm 2/10, chuyến thăm đầu tiên của một Thủ tướng Trung Quốc trong vòng 24 năm qua, ông Ôn Gia Bảo cho biết, số container qua cảng Piraeus sẽ tăng 800.000 lượt trong năm nay và đạt 3,7 triệu lượt vào năm 2015. Giao thương biển là một yếu tố quan trọng trong sự hợp tác giữa hai nước, bởi 60% lượng dầu thô được nhập khẩu vào Trung Quốc là bằng tàu thuyền của Hy Lạp và 50% hàng hóa Trung Quốc cũng được vận chuyển bằng con đường này, ông cho biết thêm. Hy Lạp hiện có đội thương thuyền lớn nhất thế giới. Cũng trong chuyến thăm này, các ngân hàng Trung Quốc đã đồng ý cho 3 hãng tàu của Hy Lạp, gồm Diana Shipping Inc., Angelicoussis Shipping Group, và Cardiff Marine vay 267 triệu USD. Trong đó, Diana sẽ nhận khoản vay 82.6 triệu USD, trong khi Angelicoussis nhận 111 triệu USD từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc. Cardiff Marine nhận 74.2 triệu USD từ Ngân hàng Phát triển Trung Quốc. Hãng tin Hellenic Shipping cho biết, Cardiff Marine sẽ dùng khoản vay này để mua một tàu chở dầu cỡ lớn. Hôm 24/8, tập đoàn công nghiệp nặng Jiangsu Rongsheng của Trung Quốc cũng nhận đơn đặt hàng hai tàu chở dầu lớn của Cardiff Marine. Một số nhà bình luận cho rằng, kể từ Kế hoạch Marshall, khi Mỹ viện trợ tái thiết Hy Lạp sau cuộc nội chiến 1946-1949 tới nay, thì Trung Quốc là quốc gia đơn lẻ có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Hy Lạp thông qua những cam kết mới đây. Cũng có một số quan điểm khác về sự đầu tư này. Đài Radio Netherlands Worldwide cho rằng, triển vọng của Hy Lạp là trở thành “thuộc địa đầu tiên của Trung Quốc ở châu Âu”, trong khi tờ Asia Times thì lại ví von “Con ngựa thành Troa đã bị con rồng nắm đuôi”.

Ngày 04/11/2010, trong chuyến công du của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại Pháp, hai bên đã ký nhiều hợp đồng tổng cộng khoảng 20 tỷ USD. Theo điện Elysée, có tất cả 20 thỏa thuận hợp tác kinh tế , thương mại và công nghiệp tập trung trên các lãnh vực hàng không, hạt nhân, dầu khí. Ông Hồ Cẩm Đào tới Bồ Đào Nha sau đó. Theo một quan chức Trung Quốc, Chủ tịch nước này sẽ đưa ra đề nghị mua trái phiếu chính phủ của Bồ Đào Nha, để “giúp ích” cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Bồ Đào Nha đang đối mặt với nguy cơ một cuộc khủng hoảng nợ kiểu như Hy Lạp. "Chúng tôi sẵn sàng ủng hộ những nỗ lực của Bồ Đào Nha đối phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính”.

Bảo đảm nguồn tiếp tế năng lượng: Từ nay đến năm 2020, nhu cầu nhập khẩu dầu lửa của Trung Quốc sẽ tăng hơn hai lần, lên tới 9 triệu thùng mỗi ngày. Trung Quốc hiện đứng hàng thứ hai trên thế giới về mức tiêu thụ dầu, chỉ sau Hoa Kỳ, thế nhưng, một nửa số nhu cầu này lại phải nhập khẩu. Do đó, bảo đảm cung ứng nhiên liệu là mối quan tâm chính của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Ðây là ưu tiên sống còn của Trung Quốc:

-Nga Sô là nước có trữ lượng khổng lồ 2 ngàn tỷ thước khối khí và hơn 83 triệu tấn khí đông đặc tại Tây Bá Lợi Á. Trung Quốc và Nga Sô đang thương thuyết các dự án về năng lượng lên đến 100 tỷ Mỹ Kim. Đầu năm 2009, Hồ Cẩm Đào và Putin đã ký một hiệp ước trị giá 25 tỷ Mỹ Kim xây dựng một ống dẫn dầu dẫn khí của Nga từ Tây Bá Lợi Á về trung tâm năng lượng Đại Khánh của Trung Quốc. Tháng 10 năm 2009, Putin dự trù thăm viếng Trung Quốc một lần nữa để ký một hợp đồng khác cũng trị giá 25 tỷ Mỹ Kim. Trung Quốc sẽ  cho Nga Sô mượn 20 tỷ Mỹ Kim; đổi lại, Nga Sô sẽ cung cấp dầu cho Trung Quốc với một số lượng không được tiết lộ. Tất cả các thỏa thuận trên vẫn chưa được hoàn tất vì hai bên vẫn chưa mặc cả xong giá gas.
-Chỉ 20 năm trước, Nga và các nước giàu năng lượng ở vùng Trung Á như Azerbaizan, Kazakhsan và Turkmenistan ở vùng Nam Caucasus đều thống nhất trong Liên Bang Xô-Viết. Cho đến 2006, Nga vẫn mua được khí đốt giá rẻ từ các nước này. Nhưng từ đầu năm 2008, Nga đã phải đồng ý trả theo giá Âu Châu, 300 Mỹ Kim cho 1 ngàn mét khối." Các quốc gia Trung Á sau khi dành được độc lập đã ý thức được sức mạnh chiến lược to lớn của mình, nay đang bắt các cường quốc thế giới phải tranh giành nhau mua nguồn năng lượng của mình. Moscow rơi vào thế phải cạnh tranh quyết liệt với các đối thủ hùng mạnh khác là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu. Trung Quốc sẵn sàng trả giá cao hơn, đang thay thế Nga để trở thành khách hàng lớn nhất. Những đường ống dẫn đầu tiên chuyển dầu và khí sang phía Ðông, tới Trung Quốc thay vì lên phía bắc hoặc sang phía tây. Từ Kazakhstan, nay mỗi ngày có 200 ngàn thùng dầu được bơm lên biên giới, tới tỉnh Tân Cương ở miền tây Trung Quốc. Hiện cũng đang có các kế hoạch nhằm tăng gấp đôi công suất các đường ống dẫn. Từ Turkmenistan, một đường ống dẫn khí tới Trung Quốc qua ngả Uzbekistan và Kazakhsan đã được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào khai trương hồi tháng Mười Hai năm ngoái. Nó có thể đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu năng lượng hiện nay của Trung Quốc nếu đạt mức công suất tối đa vào năm 2013. Turkmenistan là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ tư trên thế giới.
-Tại Trung Ðông, Trung Quốc đã ký kết với Iran một hợp đồng lên tới 70 tỷ Mỹ Kim để mua dầu và khí đốt của nước này. Tháng 6 năm nay, công ty năng lượng quốc gia Trung Quốc (CNP) đã đầu tư khoảng 5 tỷ Mỹ Kim vào việc tiếp tục phát triển dự án khai thác gas tại Iran cùng với hảng Total và Gazprom từ năm 2002. Vì vậy mà Nga Sô và Trung Quốc đã ra mặt bênh vực Iran khi nước này bị Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc đòi trừng phạt kinh tế vì chương trình nguyên tử . Công ty quốc doanh CNPC ( China National Petroleum Corporation ) đã thiết lập 1 đường ống dẫn dầu dài 1,500 km dẫn dầu đến Port-Soudan trên Hồng Hải để từ đó chuyển về Trung Quốc. Sự có mặt của Trung Quốc trong vùng biển này làm Mỹ và Do Thái lo ngại. Ngoài ra Trung Quốc còn có nhiều dự án khoan dầu tại Guinea, Congo, Malta.
-     Trung Quốc đã đầu tư khoảng 40 tỉ USD vào ngành dầu khí của Iran. Hãng thông tấn AFP loan tin này ngày 31-7-2010 dựa vào nguồn tin của Bộ trưởng Dầu khí Iran Hossein Noqrehkar Shirazi. Trung Quốc là nước đối tác kinh tế chính của quốc gia Hồi giáo này. Giới chức cao cấp Iran này cho biết trữ lượng dầu khí của nước ông xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 30% trong 6 tháng đầu năm nay, so với cùng kỳ năm ngoái. Trả lời phỏng vấn của thông tấn xã Mehr Ông Hossein Noqrehkar Shirazi nhấn mạnh rằng, mức đầu tư vào các dự án của Trung Quốc ở Iran là 29 tỉ USD. Ông này cũng nói Trung Quốc đã ký thêm những hợp đồng về công nghiệp hóa dầu, những dự án của các nhà máy lọc dầu, và các công trình đường ống dẫn dầu khí trị giá khoảng 10 tỉ đô la. Đồng thời, Trung Quốc cũng đưa ra những đề nghị tham gia xây dựng thêm 7 nhà máy lọc dầu mới ở Iran. Do các biện pháp cấm vận của phương Tây đối với vấn đề hạt nhân của Tehran, Trung Quốc trở thành nước bạn hàng lớn nhất của Iran. Năm ngoái kim ngạch mậu dịch song phương giữa Iran và Trung Quốc đạt trên 21 tỉ USD so với khoảng trên 14 tỉ USD của 3 năm trước đó.
-Tại châu Mỹ La Tinh, giữa năm 2009, một lượng vốn trị giá 10 tỷ Mỹ Kim đã được Ngân hàng Phát triển Trung Quốc cho công ty dầu mỏ quốc gia Brazil Petrobras vay nhằm thực hiện các dự án khai thác trên biển và nội địa. Ngày 21-5-2010, công ty dầu mỏ Statoil của NaUy thông báo bán 40% cổ phần (3 tỷ Mỹ Kim) của mỏ dầu Peregrino ở ngoài khơi lòng chảo Campos của Brazil cho Tập đoàn dầu khí Sinochem của nhà nước Trung Quốc. Thương vụ Peregrino diễn ra ngay sau khi Công ty dầu hải ngoại của Trung Quốc (CNOOC) cũng công bố nắm giữ 50% cổ phần (3,1 tỷ Mỹ Kim) trong một công ty liên doanh với Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần năng lượng Bridas của Argentina. Trong khi hai thương vụ trên còn phải chờ sự phê chuẩn của chính phủ hai nước, các thỏa thuận này đã cho thấy rõ mục tiêu mới của các hoạt động của Trung Quốc ở Mỹ Latinh, cũng như vai trò và hình ảnh của Bắc Kinh đang gia tăng trong khu vực. Tại Brazil, theo tờ Thời báo Hoàn cầu, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB), Tập đoàn hóa dầu Trung Quốc (Sinopec) và công  ty năng lượng Petrobras của Brazil đã ký thỏa thuận "đổi dầu lấy tín dụng". Theo đó, Petrobas đồng ý cung cấp dầu trong 10 năm tới (khoảng 200,000 thùng dầu/ngày) cho Sinopec để đổi lại các khoản vay trị giá 10 tỷ Mỹ Kim từ CDB trong khung thời gian này. Tại Argentina, Chủ tịch CNOOC Yang Hua bình luận: "Với danh mục tài sản dầu và khí đốt được xếp hạng thế giới, Bridas xứng đáng là đầu cầu để chúng tôi (CNOOC) bước vào Mỹ Latinh. Thông qua thương vụ này, chúng tôi sẽ tạo dựng một sự hiện diện công bằng tại khu vực." Bridas cũng có các hoạt động khai thác và sản xuất tại Bolivia và Chile; và theo một thông cáo của CNOOC niêm yết tại thị trường chứng khoán Hong Kong, Bridas còn sở hữu 40% cổ phần của Pan American Energy LLC, một chi nhánh của BP Plc. Tại Venezuela, Trung Quốc mới đây đã nhất trí dành 20 tỷ  Mỹ Kim cho Caracas vay nợ, trả theo hai đợt là 10 tỷ Mỹ Kim và 70 tỷ nhân dân tệ (10,25 tỷ Mỹ Kim). Trung Quốc và Venezuela sẽ thành lập một công ty liên doanh để khai thác mỏ Junin-4 Block, thuộc vành đai dầu nặng Orinoco, dự kiến khai thác 2,9 tỷ thùng dầu thô nặng trong 25 năm theo hợp đồng.
-Tháng 9 năm 2009, báo tài chính Financial Times đưa tin rằng CNOOC, hãng dầu khí quốc gia của Trung Quốc hiện đang có các cuộc thương thảo tại Nigeria nhằm mua lượng lớn cổ phần tại một số các lô giàu trữ lượng dầu nhất trên thế giới. Tổng trị giá thỏa thuận không được tiết lộ nhưng các chi tiết liên quan cho thấy đây là thương vụ cỡ chừng 30 tỷ Mỹ Kim.
-Cuối năm 2008, thỏa ước trị giá 19 tỷ Mỹ Kim giữa công ty Chinalco thuộc Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA) để mua lại 20% cổ phần của công ty khoáng sản hàng đầu thế giới Rio Tinto của Úc Đại Lợi phải bị hủy bỏ vì sự can thiệp của chính phủ Úc. Tháng 7-2010, theo AFP, tập đoàn Chinalco của Trung Quốc ra thông báo ngừng thực hiện một dự án khai thác bauxite và quặng nhôm tại Aurukun, tiểu bang Queensland, phía đông bắc nước Úc. Tổng đầu tư dự tính ban đầu cho dự án này lên tới 2.5 tỷ Mỹ Kim. Theo giải thích của phía Trung Quốc, thì dự án nói trên không có lãi do giá nhân công tại đây tăng, chi phí xây dựng cao trong lúc giá nhôm trên thị trường thế giới đang chao đảo, có xu hướng hạ thấp. Đại diện của Chinalco nói thẳng là trong những điều kiện như vậy, dự án không mang lại nhiều lợi nhuận cho tập đoàn.
-Trung Quốc cũng đã tuyên bố sẽ bỏ ra 30 tỷ Mỹ Kim để thăm dò dầu khí trong vùng Biển Đông.
-Song song với việc nhòm ngó các khu vực có trữ lượng lớn như tại Trung Đông, các công ty dầu khí Trung Quốc chuyển hướng sang Canada và lựa chọn cách thức cùng lập liên doanh hoặc tham gia vào phần vốn của các công ty sở tại, thay vì tung tiền ra mua toàn bộ hoặc nắm quyền kiểm soát các công ty nước ngoài. Theo tin của công ty dịch vụ tư vấn CLSA tại Hồng Kông, được AFP trích dẫn, thì giờ đây, Trung Quốc thâm nhập vào các công ty nước ngoài một cách nhẹ nhàng, rón rén, chứ không đối đầu trực diện. Họ âm thầm mua lại một phần vốn của công ty. Người ta không thấy hiện tượng đối tác Trung Quốc hung hăng, muốn mua lại toàn bộ công ty nước ngoài, tìm cách giành quyền kiểm soát hoặc trở thành cổ đông chiếm đa số, nắm quyền kiểm soát. Trong năm 2010, Trung Quốc đã đầu tư hàng tỷ Mỹ Kim vào vùng Alberta, phía tây Canada, nơi có trữ lượng dầu cát được ước tính lên tới 175 tỷ thùng, chỉ sau Ả Rập Xê Út, nước này có trữ lượng là 260 tỷ thùng. Tháng năm vừa qua, quỹ đầu tư của Nhà nước Trung Quốc, China Investment Corp đã ký một thỏa thuận đầu tư 1.17 tỷ Mỹ Kim hỗ trợ tập đoàn Canada đẩy mạnh khai thác các nguồn dầu cát. Trước đó, vào tháng tư, SINOPEC, công ty dầu khí lớn thứ hai của Trung Quốc, đã chi ra 4.65 tỷ Mỹ Kim để mua lại 9% số vốn của tập đoàn Syncrude Canada. Vào tháng tám năm ngoái, tập đoàn dầu khí số một Trung Quốc, PetroChina, đã bỏ ra hơn 1.7 tỷ Mỹ Kim để có được 60% số vốn trong hai dự án ở Athabasca Oil Sand, tại Alberta, Canada. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các tập đoàn dầu khí Trung Quốc là những doanh nghiệp hiếm hoi có tiềm năng tài chính dồi dào, với sự hỗ trợ của chính phủ. Do vậy, chi phí rất cao trong việc khai thác dầu cát ở Canada không làm nản lòng các doanh nghiệp Trung Quốc. Vào thời điểm hiện nay, để tránh sự phản đối của giới lãnh đạo chính trị Canada, các công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc có mục tiêu trước mắt là giữ vị trí thiểu số trong phần vốn các doanh nghiệp và học hỏi kinh nghiệm, công nghệ khai thác dầu cát. Trong tương lai, khi có cơ hội, các tập đoàn Trung Quốc sẽ nắm giữ quyền kiểm soát các doanh nghiệp này.


2.QUÂN SỰ:

(Bài viết về Quân Lực Trung Quốc được cập nhật liên tục dựa theo các tài liệu mới nhất sưu tập được. Quý độc giả có thể xem bài Báo Cáo cuối năm 2010 của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ gởi Quốc Hội về Quân Lực Trung Quốc để có những chi tiết tương đối chính xác nhất - Lời người phụ trách)


Quân đội Nhân dân Trung Quốc (People's Liberation Army: PLA) được thành lập từ năm 1927 tại Nam Xương do sự kết hợp từ những cánh quân du kích của Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu và Mao Trạch Đông. Sau khi Mao chiếm được toàn thể Hoa Lục, các nhóm quân này thống nhứt, thành quân đội của cả nước Trung Hoa Cộng Sản. Quân đội Nhân dân Trung Quốc là quân lực lớn nhất thế giới với khoảng 2.3 triệu người, được chia làm 5 quân chủng và các đơn vị đặc biệt:

-Bộ Binh (PLA Ground Force)
-Hải Quân (PLA Navy: PLAN)
-Không Quân (PLA Air Force: PLAAF)
-Lực lượng hỏa tiễn chiến lược (Quân đoàn Pháo binh số 2)
-Lực lượng Trừ bị.
-Các đơn vị đặc biệt.

Ngoài ra, Lực lượng Cảnh sát Vũ trang (People's Armed Police: PAP) trực thuộc Quân Ủy Trung Ương và bộ Nội Vụ là một lực lượng riêng không thuộc quân lực Trung Quốc dù rằng cả hai đều trực thuộc Quân Ủy Trung Ương. Chủ tịch của Quân ủy Trung Ương hiện nay là Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Đào với 3 phó chủ tịch là Quách Bá Hùng, Tào Cường Xuyên và Từ Tài Hậu. Cho đến bây giờ, Trung Quốc vẫn còn mua những thiết bị quân sự của Nga Sô và các nước Tây Âu nhưng trong một, hai thập niên sắp đến, Trung Quốc sẽ là cường quốc quân sự đứng thứ hai trên thế giới, sẵn sàng thách thức vị thế của Hoa Kỳ trên mọi lãnh vực:

LỤC QUÂN: Lục quân Trung Quốc  hiện nay có khoảng 1.6 triệu người, chiếm 70% tổng số quân nhân hiện dịch (2.3 triệu người). Cả nước có 7 Quân Khu với nhiều quân đoàn trong đó quân đoàn 27 thuộc quân khu Bắc Kinh. Quân đoàn này đã trách nhiệm đàn áp sinh viên ở Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989. Ngoài quân khu Bắc Kinh, những quân khu khác là: Thẩm Dương, Thành Đô, Quảng Châu, Tế Nam, Lan Châu và Nam Kinh. Lục quân Trung Quốc chia làm 18 Lộ quân với quân số khoảng 30,000 - 65,000. Tổng quát, lục quân Trung Quốc có 9 sư đoàn thiết giáp, 3 sư đoàn cơ giới, 24 sư đoàn bộ binh cơ giới, 15 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn thủy quân lục chiến và khoảng 85 lữ đoàn biệt lập trong đó có 19 lữ đoàn hỏa tiễn phòng không và 10 lữ đoàn trực thăng. Hiện nay, sau giai đoạn canh tân hóa, 40% các sư đoàn và lữ đoàn là các đơn vị cơ giới, gấp đôi tỷ lệ trước khi canh tân.

Mặc dù quân số của các đơn vị Lục Quân giảm đi nhưng các đơn vị mới nặng về kỹ thuật như Lực Lượng Đặc Biệt, Trực Thăng của Bộ Binh, đơn vị phòng không cũng như các đơn vị tác chiến điện tử, tin học lại được nâng lên và phát triển như là các đơn vị chiến lược.

Hiện tại, có 80% sĩ quan của PLA được đào tạo 4 năm so với chỉ có 25.8% vào năm 1998. Kể từ năm 2009, Trung Quốc khuyến khích sinh viên tốt nghiệp đại học tham gia quân đội.

KHÔNG QUÂN: Về không quân, Trung Quốc có 22 Sư Đoàn chiến đấu và 12 Sư Đoàn oanh tạc. Nhiều Sư Đoàn được phối hợp thành Quân Đoàn KQ như QĐ/KQ Thượng Hải, QĐ/KQ Hàng Châu. Trước năm 1980, Không Quân Trung Quốc chỉ có nhiệm vụ yểm trợ bộ binh và một số nhỏ oanh tạc cơ có thể mang đầu đạn nguyên tử. Lực lượng Không Quân có khả năng hạn chế trong lãnh vực không vận và thám thính. Vào đầu thập niên 90, Không Quân Trung Quốc bắt đầu một kế hoạch canh tân dài hạn vì sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết, khủng hoảng trên eo biển Đài Loan cũng như sự đối đầu trong tương lai với Hoa Kỳ. Trung Quốc bắt đầu mua một số chiến đấu cơ loại Su-27 của Nga cũng như phát triển các loại chiến đấu cơ loại J-10 và JF-17 đóng trong nước và tăng cường việc huấn luyện phi công. Vào đầu thế kỷ 21, Trung Quốc bắt đầu mua khoảng gần 250 chiến đấu cơ loại Su-30MKK, loại cải tiến Su-30MK2 và loại  Su-27SK/UBK của Nga. Trung Quốc cũng bắt đầu sản xuất khoảng 100 chiến đấu cơ loại J-10. Trung Quốc cũng đã bắt đầu phát triển loại phi cơ tiếp tế nhiên liệu dựa theo loại Tu-16 Badger của Nga. Năm 2005, Trung Quốc tuyên bố sẽ mua 30 phi cơ chuyên chở loại IL-76 và 8 phi cơ tiếp tế nhiên liệu loại IL-78 của Nga để tăng cường khả năng không vận và gia tăng tầm hoạt động của các chiến đấu cơ tuy nhiên cho đến năm 2009 vẫn chưa thấy xúc tiến. Trong tương lai, chủ lực của Không Quân Trung Quốc là các loại J-10, J-11 và JH-7A sản xuất trong nước. Lực lượng chuyên chở sẽ gồm có các phi cơ chuyên chở tầm trung loại Y-9 cũng như loại IL-76 của Nga và loại phi cơ chuyên chở hạng nặng tương tự như loại C-17 của Hoa Kỳ mà Trung Quốc đang phát triển. Lực lượng trực thăng gồm có loại chuyên chở Z-15 và loại tấn công Z-10. Các phi cơ thám thính AWAC/AEW gồm có loại KJ-2000 và KJ-200 cũng như loại UAV/UCAV bắt đầu đưa vào hoạt động.

Vài ngày trước chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates vào đầu tháng 1-2011, hình ảnh của chiến đấu cơ thế hệ 5 J-20 đã xuất hiện trên mạng China Defence. Bên cạnh chiếc J-20 đang thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, Trung Quốc đang âm thầm phát triển một chiếc máy bay ném bom tàng hình mới, tạm gọi là H-8. Đây là loại máy bay được thiết kế cho nhiệm vụ ném bom chiến lược nhằm đối trọng với B-2 Spirit của Mỹ. H-8 được phát triển nhằm thay thế H-6 (nguyên mẫu là máy bay ném bom Tu-16 của Nga), được Xian Aircraft Industrial Corporation phát triển. Hiện hình ảnh gần nhất về H-8 cho thấy, loại máy bay này mới chỉ tồn tại ở dạng mẫu nghiên cứu chế tạo, có hình dáng khí động học động học gần giống với B-2 Spirit của Mỹ. Có nhận định cho rằng, H-8 sẽ có chuyến bay thử nghiệm đầu tiên vào đầu năm 2011.

HẢI QUÂN: Cho đến đầu thập niên 90, Hải Quân Trung Quốc là một thành phần trực thuộc Lục Quân Trung Quốc. Từ đó, Hải Quân Trung Quốc đã bắt đầu tách riêng ra và trải qua một giai đoạn bành trướng mãnh liệt. Hải Quân Trung Quốc hiện có 250,000 quân nhân, được chia làm 3 hạm đội: Hạm Đội Bắc Hải với Bộ Tư Lệnh đặt tại Quindao, Hạm Đội Đông Hải với Bộ Tư Lệnh đặt tại Ningbo và Hạm Đội Nam Hải với Bộ Tư Lệnh đặt tại Zhanjiang. Mỗi hạm đội gồm có các chiến hạm, tàu ngầm, hải-không quân, lực lượng phòng duyên và thủy quân lục chiến. Hải Quân Trung Quốc gồm có 35,000 quân trong lực lượng phòng duyên, 56,000 thủy quân lục chiến và 56,000 quân thuộc lực lượng hải-không quân. Lực lượng hải-không quân sử dụng hàng trăm phi cơ căn cứ trên bờ và trực thăng trên chiến hạm. Các chi tiết về Hải Quân Trung Quốc, xin xem bài:

“HẢI QUÂN TRUNG QUỐC”
       trong phần
“TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG”

LỰC LƯỢNG HỎA TIỄN CHIẾN LƯỢC (QUÂN ĐOÀN PHÁO BINH SỐ 2): Quân đoàn pháo binh số 2 là đơn vị hỏa tiễn chiến lược của Quân Lực Trung Quốc có trách nhiệm kiểm soát các hỏa tiễn mang đầu đạn hạch nhân cũng như thông thường. Lực lượng hỏa tiễn chiến lược Trung Quốc có khoảng 90,000-120,000 quân chia làm 6 sư đoàn trang bị hỏa tiễn liên lục địa đồn trú độc lập tại các quân khu. Mỗi sư đoàn được chia ra 15-20 lữ đoàn. Trung Quốc còn thua xa Mỹ về vũ khí hạch tâm (200 so với Hoa Kỳ có 10,000) và hỏa tiễn liên lục địa (200 so với Hoa Kỳ có 830). Các loại hỏa tiễn tầm trung và tầm xa phóng trên bộ mang ám số từ DF-2 (CSS : China Surface to Surface) tầm xa 1,250 km cho đến loại DF-41 tầm xa 15,000 km, có thể bao trùm bất cứ nơi nào trên thế giới. Trong cuộc diễn binh nhân ngày Quốc Khánh, 1 tháng 10 năm 2009, Trung Quốc lần đầu tiên trình diễn các hỏa tiễn hạt nhân liên lục địa loại DF-31 cải tiến, có khả năng vươn tới tận Washington, được vận chuyển trên các xe kéo cùng với các tên lửa hiện đại tầm ngắn DF-11 và DF-15, tên lửa chống tàu chiến YJ-83 và tên lửa hành trình DH-10, vốn có mục tiêu là Đài Loan và hải quân Mỹ. Trung Quốc đang phát triển loại hỏa tiễn liên lục địa DF-41, tầm xa 15,000 km, có thể mang tối đa 12 đầu đạn MIRV, song song với chương trình JL-2 phát triển cho các tàu ngầm hạt nhân. Dự trù hoàn tất năm 2009 ; tuy nhiên chưa được thấy trong cuộc diễn binh năm 2010. Hỏa tiễn chống chiến hạm tầm trung DF-21D (1,500 km) được biết đã vào giai đoạn triển khai nhưng hiệu năng thực sự chưa được kiểm chứng.

LỰC LƯỢNG TRỪ BỊ: Lực lượng quân sự dự bị của Trung Quốc giảm từ 600,000 xuống 510,000 người trong vòng 5 năm qua. Số người tham gia vào lực lượng dân quân cũng giảm từ 10 triệu xuống còn 8 triệu người trong cùng kỳ. Trong các tình huống khẩn cấp, lực lượng dự bị và dân quân có thể tiếp tay cho 2.3 triệu quân chính quy.

CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT VỀ KHOA HỌC KHÔNG GIAN VÀ TIN HỌC: Trong lãnh vực khoa học không gian, tháng 1 năm 2007, Trung Quốc đã thành công trong việc phóng hỏa tiễn chống vệ tinh, đe dọa trực tiếp các vệ tinh gián điệp của Hoa Kỳ. Hỏa tiễn Trung Quốc SC-19 đã bắn trúng 1 vệ tinh của Mỹ ở cao độ 760 km. Nhiều năm trước đó, ngày 24 tháng 1 năm 1970, Trung Quốc đã phóng 1 vệ tinh được đặt tên là Đông Phương Hồng lên quĩ đạo, tại sa mạc Gobi, thuộc tỉnh Cam Túc ở miền Tây Bắc Trung Hoa. Từ đó đến nay, Trung Quốc đã phóng vào quĩ đạo trái đất hơn 50 vệ tinh từ các căn cứ Tây Xương (thuộc tỉnh Tứ Xuyên), Thái Nguyên ( thuộc tỉnh Sơn Tây), Tửu Tuyền (thuộc tỉnh Cam Túc) và đảo Hải Nam. Người chịu trách nhiệm chương trình không gian, hỏa tiễn của Trung Quốc là 1 người Mỹ gốc Trung Hoa, có tên là Qian Xuesen. Tiến sĩ Qian nguyên là 1 Đại tá Không Quân Hoa kỳ, một bác học Mỹ gốc Trung Hoa lừng danh quốc tế từ thập niên 1940-1950. Qian được Mao giao cho trọng trách điều khiển chương trình không gian và hỏa tiễn của Trung Quốc.

Điện toán đã thành 1 phần trong hoạt động hàng ngày của một quốc gia từ phương diện quân sự, hành chánh, kỹ nghệ cũng như mỗi cá nhân. Trong chiến tranh hiện đại, làm tê liệt hệ thống điện toán của đối phương là điều kiện tiên quyết để đi đến chiến thắng. Đối phương sẽ bị tê liệt vì hệ thống điện toán bị hủy diệt ngay từ đầu của chiến cuộc, mất hết khả năng quân sự, tài chính, kinh tế, hệ thống thông tin. Nếu chiến tranh xẩy ra giữa Trung Quốc và Mỹ, chắc chắn Trung Quốc sẽ tìm cách phá hoại hệ thống điện tử của Mỹ. Trung Quốc có một đơn vị đặc biệt để phá hệ thống tin học của các quốc gia thù nghịch trong trường hợp chiến tranh xảy ra dù Trung Quốc luôn luôn phủ nhận sự hiện hữu của đơn vị này. Hệ thống điện toán của các cường quốc trong thế giới tự do đã bị Trung Quốc  thăm dò, tấn công. Tháng 6 năm 2007, tin tặc Quân đội Nhân dân Trung Quốc đã xâm nhập hệ thống điện toán của Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ, đánh cắp một số tài liệu và làm cho hệ thống điện toán của một cố vấn cao cấp của Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates phải tạm đóng lại như 1 biện pháp đề phòng. Được biết, xâm nhập với ý đồ phá hoại hệ thống điện toán từ Trung Quốc được ghi nhận từ năm 2005. Ngày 5 tháng 8, tờ báo Guardian cho hay, tin tặc Trung Quốc đã tấn công hệ thống điện toán của Chánh phủ Anh. Tháng 8 năm 2007, hệ thống điện toán của Thủ tướng Đức cùng hệ thống điện toán của các bộ Ngoại Giao, Kinh Tế bị nhiễm virus và bị ăn cắp dữ kiện. Cơ quan tình báo thuộc Bộ Nội Vụ Đức quốc tin rằng tin tặc xuất phát từ Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Ngày 10 tháng 9 năm 2007, Tổng Thư Ký Bộ Quốc Phòng của Pháp đã lên tiếng tố cáo hệ thống điện toán của Pháp bị một nhóm tin tặc có liên quan đến Trung Quốc xâm nhập. Cũng trong tháng 9, báo The Age ở Úc cho hay hệ thống điện toán của Tân Tây Lan cũng bị xâm nhập ...  Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã từng nói tại Shangri-La Dialogue năm 2009 rằng sự đấu trí trong tương lai với Trung Quốc là ở những vụ chạm trán tầm xa trên biển, trên bầu trời và nhất là trong lĩnh vực điện toán quân sự (cyberspace).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

en.wikipedia.org/.../Economy_of_the_People's_Republic_of_China
en.wikipedia.org/wiki/People's_Liberation_Army


2011

1. DV-010311-CHINA-2-KQTQ tu bao cao cua BQP-HK.doc: Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ báo cáo về Không Quân Trung Quốc.
2. ITN-010611-CHINA-2-Ten lua DF-21D.doc: Các bản tin về tên lửa đối hạm DF-21D của Trung Quốc.
3. RFI-011011-CHINA-2-Xuat sieu TQ.doc: Ðài RFI bàn về tình trạng xuất siêu của TQ trong cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của chủ tịch Hồ Cẩm Ðào.
4. ITN-021011-CHINA-2-Chien dau co J-20: Các bản tin về chiến đấu cơ thế hệ 5 của Trung Quốc.
5. ITN-021011-CHINA-2-Chuong trinh vu khi khong gian TQ.doc: Bản tin trên báo Ðất Việt về chương trình vũ khí không gian Trung Quốc.
6. ITN-022111-CHINA-2-Nhat-TQ-Kinh te va Hanh phuc.doc: Trung Quốc vượt qua khỏi Nhật để trở thành nền kinh tế thứ 2 thế giới - Vấn đề hạnh phúc nhân dân.
7. VEF-022411-CHINA-2-TQ-Ngan hang the gioi moi.doc: Bài viết của giáo sư Teresita Cruz-del Rosario và Phillie Wang Runfei, trợ lý nghiên cứu tại trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore về chương trình viện trợ phát triển của Trung Quốc.
8. DV-033011-CHINA-2-Bien gioi Trung-An.doc: Các bản tin về hoạt động quân sự dọc theo biên giới hai nước.
9. VND-052911-CHINA-2-Ukraine tiep tay cho TQ.doc: Bài viết trên báo Vietnam Defence về việc Ukraine tiếp tay cho các chương trình phát triển vũ khí của Trung Quốc.
10. ITN-121011-CHINA-2-Cai cach kinh te-xa hoi TQ.doc: Các bài viết về cải cách kinh tế - xã hội Trung Quốc.

2012

12. ITN-093012-CHINA-2-HKMH dau tien cua TQ.doc: Các bản tin về Hàng Không Mẫu Hạm đầu tiên của Trung Quốc.


(Xem “Biển Ðông: Trung Quốc II” để xem tiếp Chương III và IV)


LỊCH TRÌNH TU CHỈNH

1) 15-8-2009: Hoàn tất bài viết.
2) 9-1-2012: Bắt đầu tu chỉnh để thêm vào những biến cố xảy ra trong năm 2011.
3) 18-1-2012: Tu chỉnh chi tiết về kinh tế Trung Quốc.



Nguyễn Mạnh Trí
E-Mail: prototri@yahoo.com
www.tranhchapbiendong.com
Tu chỉnh: 12 tháng 9 năm 2014





LỜI NGƯỜI PHỤ TRÁCH:

Vì bài viết về “Trung Quốc” quá dài, chúng tôi quyết định chia bài nghiên cứu về “Trung Quốc” thành 2 phần:

1.Phần “Biển Ðông: Trung Quốc I” gồm Chương I (Tham vọng bành trướng của Trung Quốc) và Chương II (Sức mạnh của Trung Quốc).

2.Phần “Biển Ðông: Trung Quốc II” gồm Chương III (Thế yếu của Trung Quốc) và Chương IV (Chiến lược của Hoa Kỳ và Việt Nam).